BÀI HỌC TÂN ƯỚC
Linh mục Carôlô Hồ Bặc XáiÐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH QUÝ CẦN THƠ 1994
Tài liệu này nhắm đến một mục tiêu rõ ràng: cung cấp cho giáo dân một hiểu biết cơ bản về một số đoạn Tân Ước quan trọng. Như thế tài liệu này có những giới hạn hữu ý:
a) Chỉ tuyển lựa một số đoạn Tân Ước theo thứ tự lịch sử đời Ðức Giêsu và Giáo Hội. Những đoạn này được lựa chọn từ tất cả các sách Tân Ước chứ không theo một quyển nào nhất định. Cũng giống như một thứ “Tân Ước Hợp Tuyển”. Xét theo chuyên môn thì điều này không được hay lắm, bởi vì mỗi quyển, nhất là những quyển Tin Mừng, có một cách trình bày riêng thể hiện một suy tư thần học riêng, do đó không nên tổng hợp lại thành một món thập cẩm. Nhưng vì giáo dân không có điều kiện để học tất cả các quyển nên đành phải chấp nhận món thập cẩm này vậy!
b) Việc giải thích những đoạn được tuyển chọn ấy cũng không đi sâu vào chuyên môn như khoa chú giải, nhưng chỉ nhằm cho giáo dân hiểu và sống Lời Chúa thôi.
Ðề nghị những bước tuần tự cho một buổi học như sau:
1. Khai mạc: Hát một bản Thánh Ca (chẳng hạn “Xin cho con biết lắng nghe”). Rồi im lặng cầu nguyện một lúc.
2. Ðọc và giải thích Lời Chúa:
– Cả lớp đọc chung một số câu mà giảng viên sắp giải thích.
– Giảng viên giải thích những câu vừa đọc. Ðang khi giảng viên giải thích thì học viên, nếu muốn, có thể ghi “nốt”.
– Giải thích xong, giảng viên rao cho mọi người chép đại ý những điều vừa giải thích (Dĩ nhiên chỉ ghi đại ý thì không đầy đủ bằng ghi “nốt”. Nhưng đó là điều tối thiểu cho những học viên nào không có khả năng ghi “nốt”. Ai có khả năng vừa ghi “nốt” vừa chép đại ý thì càng tốt)
Thế là xong một chu kỳ đọc - nghe - chép, tiếp theo là một chu kỳ nữa cho một số câu kế tiếp. Cứ thế đến hết bài. Phương pháp này giúp cho buổi học sinh động nhờ xen lẫn ba hoạt động khác nhau ấy. Cách này tốt hơn là cách ban đầu đọc hết cả bản văn, tiếp đến nghe giảng dài và cuối cùng chép hết cả bài.
3. Cuối bài, giảng viên dựa vào đoạn Tân Ước vừa học để gợi lên một số ý chính cho học viên suy nghĩ. Những ý này cũng sẽ là chất liệu cho phần cầu nguyện tiếp theo sau.
4. Cầu nguyện: Học viên đã hiểu đoạn Tân Ước, bây giờ họ cầu nguyện. Ðể cho 3,4 học viên cầu nguyện tự phát. Ban đầu vì chưa quen nên ít ai dám. Giảng viên cần mời vài học viên xuất sắc xung phong. Về sau đã quen thì số người tình nguyện sẽ dễ có hơn. Kết thúc phần cầu nguyện cũng bằng một bản Thánh ca.
Mặc dù tài liệu này không nhằm dạy chuyên sâu về khoa Thánh Kinh Tân Ước, nhưng việc cung cấp cho học viên một ít kiến thức về lịch sử hình thành các sách Tân Ước là điều cần thiết để giúp họ tránh những hiểu lầm (thí dụ hiểu lầm rằng ngày xưa Ðức Giêsu và các tông đồ làm gì nói gì thì liền được ghi chép đúng y như vậy vào Tân Ước) và những hoang mang (thí dụ hoang mang khi gặp những chi tiết không hoàn toàn giống nhau giữa các sách Tin Mừng). Sau đây là sơ lược lịch sử hình thành các sách trong Bộ Tân Ước.
I. NHỮNG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CÁC SÁCH TÂN ƯỚC
1. Giai đoạn I: Ngôn hành của “Ðức Giêsu lịch sử”
– Ðức Giêsu sinh ra khoảng năm –4 trước công nguyên (sở dĩ người ta quen nghĩ Ðức Giêsu sinh ra vào năm một của công nguyên là do một sự tính toán sai lầm của tu sĩ Denys le Petit khi ông lập lịch Kitô giáo).
– Từ năm 28 đến 30 công nguyên, Ðức Giêsu bắt đầu hoạt động rao giảng. Cũng như tất cả những nhà giảng thuyết thời đó, Ðức Giêsu đi đây đi đó để hoạt động và rao giảng. Dân chúng và các môn đệ xem, nghe và nhớ nhưng không ai ghi chép lại. Có nhiều điều ngay cả các môn đệ tuy xem, nghe và nhớ nhưng cũng chưa hiểu hết ý nghĩa.
– Các nhà chuyên môn nghiên cứu Thánh Kinh gọi Ðức Giêsu trong giai đoạn này là ”Ðức Giêsu lịch sử”, nghĩa là Ngài đang nói (ngôn) và làm (hành) trong lịch sử của những năm mà thân xác Ngài đang sống ở trần gian.
2. Giai đoạn II: Thành lập các giáo đoàn
– Sau khi Ðức Giêsu sống lại và lên trời, các tông đồ đi rao giảng khắp nơi và thành lập những giáo đoàn.
– Có hai loại giáo đoàn:
a) Những giáo đoàn Kitô Dothái gồm những người trước kia theo Dothái giáo nay tin theo Kitô giáo (thí dụ giáo đoàn Giêrusalem). Loại giáo đoàn này hiểu biết Cựu Ước rất nhiều và còn giữ nhiều tập tục Dothái, nhưng cũng có nhiều va chạm với Dothái giáo truyền thống;
b) Những giáo đoàn kitô Hylạp gồm những người sống ngoài lãnh thổ Palestina và trong vùng ảnh hưởng văn hóa Hylạp (tuy không nhất thiết họ là dân Hylạp) (Thí dụ các giáo đoàn Rôma, Côrintô, Êphêxô v.v.). Họ không biết Cựu Ước, không theo tập tục Dothái giáo, nhưng cũng có một số vấn đề đặc biệt của họ, như thờ thần, nếp sống buông thả theo nhục dục, ngoại tình, đa thê v.v.
– Các giáo đoàn có nhiều sinh hoạt:
a) Rao giảng để truyền đạo (Kerygma);
b) Bồi dưỡng giáo lý cho tân tòng (Parénèse);
c) Huấn giáo (Didachè);
d) Phụng vụ (Latreia).
Ðể phục vụ cho những sinh hoạt này, các tông đồ không tùy tiện muốn nói gì làm gì tự ý, nhưng nhớ lại xem ngày xưa trong hoàn cảnh như thế Ðức Giêsu đã nói gì và làm gì rồi truyền lại cho tín hữu. Những lời nói và việc làm của Ðức Giêsu được nhớ lại và giải thích theo những hoàn cảnh cụ thể ấy được các nhà chuyên môn gọi là những ngôn hành của “Ðức Giêsu phục sinh”, nghĩa là những ngôn hành đã được hiểu dưới ánh sáng của mầu nhiệm phục sinh.
3. Giai đoạn III: Ghi chép và sưu tập
Có nhiều lý do thúc đẩy phải ghi chép và sưu tập lại những ngôn hành của Ðức Giêsu:
– Nhu cầu bồi dưỡng cán bộ: số giáo đoàn ngày càng gia tăng khiến cần tìm thêm người làm những việc của các tông đồ. Mà những người này không được nghe thấy những ngôn hành của Ðức Giêsu, vậy cần chép lại cho họ biết để dùng phục vụ các sinh hoạt của những giáo đoàn.
– Nhu cầu lưu truyền hậu thế: các tông đồ cứ chết dần chết mòn khiến người ta càng thấy cần ghi lại những ngôn hành của Ðức Giêsu mà các Ngài giảng dạy cho tín hữu để lưu truyền cho các thế hệ về sau.
Việc ghi chép trải qua nhiều giai đoạn:
– Trước hết là ghi chép thành những mẩu văn rời. Thí dụ một bài giảng của Ðức Giêsu, một phép lạ của Ngài v.v.
– Tiếp đến là tập hợp những mẩu văn rời ấy lại thành tập, dựa trên một số tiêu chuẩn. Thí dụ những bài giảng thành một tập, những phép lạ thành một tập, những dụ ngôn thành một tập v.v.
– Trong khoảng thời gian các giáo đoàn ghi chép, sưu tầm và lưu chuyển cho nhau những ngôn hành của Ðức Giêsu, họ cũng sửa đổi và thích nghi các bản văn để đáp ứng với những vấn đề cụ thể của giáo đoàn họ. Việc này không làm sai lạc ý tưởng của Ðức Giêsu, bởi vì chính Ðức Giêsu đang sống trong giáo đoàn (Ðức Giêsu phục sinh) và Chúa Thánh Linh soi sáng cho họ làm việc đó.
4. Giai đoạn IV: soạn thành sách
– Cuối cùng có những người gom góp tất cả những mẩu văn rời và những sưu tập để soạn thành 4 quyển Tin Mừng, đó là Matthêu, Marcô, Luca và Gioan. Dĩ nhiên những soạn giả này cũng có phần đóng góp riêng của họ: mỗi vị có một hướng trình bày các ngôn hành của Ðức Giêsu theo quan điểm riêng của mình, cho nên cũng có một cách chọn lựa tư liệu riêng, một cách sắp xếp bố cục riêng, xử dụng những từ ngữ và bút pháp riêng v.v. Dĩ nhiên ở đây các vị cũng được sự hướng dẫn đặc biệt của Ðức Giêsu phục sinh và Chúa Thánh Linh.
– Ngoài 4 quyển Tin Mừng ấy, còn có những tác phẩm ghi lại sinh hoạt của Giáo Hội (Sách Công vụ tông đồ), giáo huấn của những vị lãnh đạo các giáo đoàn (các Thư và sách Khải huyền). Những tác phẩm kể trên được gọi chung là Tân Ước.
Về niên biểu, những giai đoạn trên được phỏng định như sau:
– Khoảng năm 28–30: Ðức Giêsu lịch sử đang nói và hoạt động.
– Khoảng năm 30–70: Thành lập các giáo đoàn.
– Từ năm 50: Bắt đầu có các Thư.
– Từ năm 70–80: soạn 3 quyển Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca. Ba quyển này theo một sơ đồ tương đối giống nhau về thứ tự các diễn biến trong đời Ðức Giêsu, nên được gọi là các Tin Mừng nhất lãm (nhất lãm: một cái nhìn chung).
– Khoảng năm 95: Thánh Gioan soạn Tin Mừng thứ tư và sách Khải huyền.
II. NHƯ VẬY, TÂN ƯỚC LÀ LỚI CỦA AI?
1. Dĩ nhiên đó là lời của Ðức Giêsu được phát biểu chẳng những bằng lời nói mà còn bằng việc làm của Ngài và được hiểu dưới ánh sáng phục sinh. Có nhiều ngôn hành của “Ðức Giêsu lịch sử” lúc đang diễn ra thì các môn đệ không hiểu hoặc là chưa hiểu hết ý nghĩa, chúng chỉ được hiểu cách đầy đủ sau khi Ðức Giêsu phục sinh sai Chúa Thánh Linh đến soi sáng cho các tông đồ.
2. Ðó cũng là Lời của các giáo đoàn Kitô đã gìn giữ, suy gẫm và lưu truyền đồng thời thích nghi những ngôn hành của Ðức Giêsu vào hoàn cảnh sống của họ.
3. Và cũng là Lời của những vị soạn tác các tác phẩm đó.
Tóm lại, Tân Ước là Lời Ðức Giêsu được sống trong các giáo đoàn và sống bởi các soạn giả, Lời đã đem đến sức sống cho các tín hữu ngày xưa, và còn tiếp tục đem đến sức sống cho chúng ta ngày nay.
Những chữ viết tắt:
Ð = đọc chung vài câu Tân Ước trong bản văn
@ = chép
* Dẫn nhập: Trước khi đi vào Tân Ước ta nên nhắc lại Cựu Ước:
– Thiên Chúa đã dựng nên các nguyên tổ và cho các ngài một cuộc sống hạnh phúc (Cựu Ước diễn tả bằng hình ảnh vườn địa đàng). Nhưng các ngài đã phạm tội nên làm mất hạnh phúc đó (diễn tả bằng hình ảnh bị đuổi khỏi vườn địa đàng). Nhưng Thiên Chúa vẫn thương, nên chính trong lúc phạt các ngài, Thiên Chúa đã hứa ban Ðấng Cứu Thế (tiếng Hypri gọi là Messia)
– Các nguyên tổ sinh con đẻ cháu, loài người ngày càng thêm đông. Trong đám đông đó, Thiên Chúa gọi riêng một người là Abraham để từ ông lập thành một dân riêng của Ngài. Con cháu Abraham dần dà trở thành dân Dothái. Thiên Chúa luôn nhắc lại với các tổ phụ và các ngôn sứ lời hứa ban Ðấng Messia. Bởi đó trong những lúc gian nan khổ sở (tai ương, chiến tranh, mất nước, lưu đày, bị đô hộ v.v.) dân Dothái luôn kêu xin Ðấng Messia mau đến giải thoát họ. Lòng mong đợi ấy thể hiện trong lời nguyện “Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Ðấng cứu đời”.
@ Ngay sau khi nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa nhân từ đã hứa sẽ ban Ðấng Messia. Lời hứa này được Ngài lặp lại nhiều lần với các tổ phụ và các ngôn sứ. Bởi đó trong những lúc khổ sở, dân Dothái thường kêu xin Ðấng Messia mau đến cứu họ.
Thế rồi đến lúc Thiên Chúa quyết định chấm dứt thời gian mong đợi. Ngài bắt đầu thực hiện lời hứa đó. Sách Tin Mừng Luca thuật như sau:
Ð cc 26-27
Những câu này giới thiệu thời gian, nơi chốn và các vai của câu chuyện.
– Thời gian là “6 tháng sau”, tức là sau chuyện Thiên Chúa cho vợ chồng Dacaria và Isave tuy đã già mà cũng sắp có con (Lc 1,5-25). Ðứa con đó là thánh Gioan, người sẽ là Tiền Hô cho Ðức Giêsu sau này.
– Nơi chốn là “Một thành xứ Galilê tên là Nadarét”.
+ “Thành”: Chúng ta đừng tưởng “thành” ở Palestina ngày xưa cũng lớn và đông dân giống như những thành phố của chúng ta ngày nay. Thực ra nơi nào có khá đông người quy tụ sinh sống thì được gọi là thành. Thành thủ đô Giêrusalem chỉ nằm gọn trên ngọn đồi Sion và dân cư chỉ vỏn vẹn khoảng 20 ngàn, tương đương với một làng hay một xã chúng ta ngày nay thôi. Bởi đó có khi chúng ta nghe nói “thành Nadarét” và khi khác lại nghe là “làng Nadarét”.
+ “Xứ Galilê”: Xứ Palestina chia thành 3 miền: miền Bắc là Galilê, miền Trung là Samaria, miền Nam là Giuđê.
+ “Nadarét”: “thành” này rất nhỏ và không có gì đặc biệt, đến nỗi Cựu Ước không lần nào nói tới.
– Các vai là Thiên sứ và Ðức Maria
+ Thiên sứ: “Sứ” là người được sai, “Thiên” là trời, Thiên Chúa. Thiên sứ là những vị hầu cận Thiên Chúa được Ngài sai đến với loài người để truyền một sứ điệp nào đó. Thí dụ báo tin cho Abraham biết thành Sôđôma sắp bị hủy diệt; đến giúp đỡ Tôbia-Con. Thiên sứ trong chuyện này được gọi là Gabriel.
(Nói thêm về tên các Thiên sứ: Trong Thánh Kinh có 3 Thiên sứ được nêu tên:
– Gabriel: nghĩa là “người của Thiên Chúa” hay “Thiên Chúa mạnh mẽ”
– Raphael: “Thiên Chúa chữa trị”
– Micael: “Ai bằng Thiên Chúa”
Những cách đặt tên như vậy muốn nói lên hai điều: a) Thiên Chúa rất quyền năng. b) Thiên Chúa tuy vô hình nhưng luôn ở bên cạnh loài người.
+ “Maria”: Người mà Thiên sứ đến báo tin là Maria, “một thiều nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse thuộc dòng vua Ðavít”. Theo tục lệ Dothái tuổi đính hôn thường là 16. Do đó khi chuyện này xảy ra thì Maria khoảng 16 tuổi. Thánh Luca dùng chữ “đính hôn” (chứ không phải “kết hôn”) để cho thấy lúc chuyện này xảy ra thì Maria là một trinh nữ. Về Ðức Maria, ta cũng nên biết thêm hai chi tiết nữa: a) Tên Maria là một tên khá phổ thông và nhiều người có. Trong Tân Ước đã có 4, 5 người mang tên này. Ðó cũng là một tên bình dân, tương tự tên Hoa, Lan, Phượng của ta, không cầu kỳ cao sang như Công Tằng Tôn Nữ Hoàng thị Bích Ngọc chẳng hạn. b) Ðức Maria lại ở trong một làng nhỏ bé ít ai biết tới. Tóm lại Ðức Maria là một thiếu nữ tầm thường ở trong một làng nhỏ bé tầm thường.
@ cc 26-27: Khi đến thời đã định, Thiên Chúa sai thiên sứ Gabriel đến làng Nadarét nhỏ bé để gặp một thiếu nữ tầm thường là Maria.
Nhưng nơi một người tầm thường và ở một chỗ tầm thường như thế lại sắp xảy ra một việc hết sức phi thường.
Ð c 28
– Lời Thiên Sứ chào có hai điểm khác thường: a) Thông thường người Dothái mở đầu câu chào bằng tiếng Shalom (chúc bình an. x Ga 20,19). Ở đây, thiên sứ lại chào “Hãy vui lên”. Ðây là những chữ đầu của lời ngôn sứ Xôphônia nói về thời cứu độ cho dân Dothái: “Vui lên nào hỡi con gái Sion, vì Ðấng cứu độ rất uy hùng rày ngự trong nhà ngươi” (Xp 3,14-15). B) Thông thường, sau câu chào mở đầu thì người ta gọi tên người mình chào. Thí dụ “Chào Ông A”, “Chào bà B”. Ở đây thiên sứ không gọi tên Maria mà lại gọi “Cô-được-Chúa-ban-đầy-ơn-phúc”. Nghĩa là Thiên sứ đổi tên. Mà trong Thánh Kinh, đổi tên là đổi số mạng (Thí dụ Thiên Chúa đổi tên Giacóp thành Israel khi Ngài muốn chọn ông; đổi tên Simon thành Phêrô khi Ngài muốn chọn ông). Vậy qua lời chào đặc biệt này, Thiên sứ ngầm nói rằng: Thiên Chúa muốn chọn Maria làm người bắt đầu thực hiện lời hứa ban Ðấng Messia cho loài người.
@ c 28: Lời Thiên sứ chào Ðức Maria rất đặc biệt, ngầm nói rằng Thiên Chúa muốn chọn Người để bắt đầu thực hiện lời hứa ban Ðấng Messia.
Ð c 29
– Nghe lời chào ấy, Maria “bối rối, tự hỏi lời chào kia ý nghĩa thế nào”: Không phải Maria không hiểu ngụ ý của Thiên sứ, vì Người cũng thấy nó không giống cách chào thông thường, và Người cũng nhận ra nó mang âm hưởng lời tiên tri về Ðấng Messia. Nhưng Maria bối rối vì không ngờ lời tiên tri đó sẽ được bắt đầu thực hiện nơi mình. Maria chới với. Bởi đó Thiên sứ mới trấn an “Ðừng sợ”.
@ c 29: Lời chào quá tốt đẹp của Thiên Sứ khiến Ðức Maria bối rối vì không ngờ con người tầm thường như mình mà được Thiên Chúa chọn để thực hiện lời hứa ban Ðấng Messia.
Ð c 30-33
Thiên sứ vừa trấn an vừa giải thích thêm cho Maria hiểu rõ hơn:
+ Trấn an: “Ðừng sợ”, nghĩa là đừng sợ nhiệm vụ quá cao cả.
+ Giải thích thêm: Thiên sứ trích thêm một lời tiên tri nữa của ngôn sứ Isaia đồng thời áp dụng lời đó vào Ðức Maria: “Này cô sẽ thụ thai và sinh con trai, rồi phải đặt tên là Giêsu” (Is 7,14). Kế đó Thiên sứ mô tả đứa con mà Maria sẽ sinh ra: “cao trọng, được gọi là Con của Ðấng tối cao, làm vua trên nhà Giacóp muôn đời, vương triều sẽ vô tận”, toàn là những điều không thể nào ứng vào một người bình thường được mà chỉ ứng vào Ðấng Messia thôi. Tóm lại Thiên sứ muốn nói đứa trẻ sắp sinh ra chính là Ðấng Messia.
@ cc 30-33: Thiên sứ trấn an Ðức Maria, đồng thời giải thích thêm rằng đứa trẻ sắp sinh ra chính là Ðấng Messia.
Ð c 34
– “Vì tôi không biết đến người nam”: Ðộng từ “biết” trong Thánh Kinh rất sâu sắc có nghĩa là liên hệ rất mật thiết. Vợ chồng giao hợp với nhau cũng gọi là “biết” (x St 4,1.17.25 19,8 24,16). Vậy ý Ðức Maria thưa lại với Thiên sứ là Người không có giao hợp thì làm sao mà có con được.
@ c 34: Maria không hiểu làm thế nào Người có con được khi không có việc ăn ở vợ chồng.
Ð cc 35-37
Ðáp lại, Thiên sứ nói về quyền phép Thiên Chúa và đưa ra một băng chứng:
+ Quyền phép Thiên Chúa: “Chẳng có sự gì mà Thiên Chúa không làm được”. Việc thụ thai là do Thiên Chúa làm. Ngài làm cách bình thường là thông qua việc giao hợp của những vợ chồng mạnh khoẻ. Nhưng Ngài cũng có thể cho những người già yếu có con, hoặc cho sinh con không cần thông qua việc giao hợp.
+ Bằng chứng: người chị họ của Maria là Isave dù già quá tuổi có con bình thường nhưng đã được Thiên Chúa cho thụ thai 6 tháng rồi.
@ cc 35-37: Thiên Chúa quyền phép làm được mọi sự, Thánh Linh sẽ trục tiếp dựng nên một bào thai trong lòng Ðức Maria.
Ð c 38
– Khi đã hiểu rõ ý Thiên Chúa, Ðức Maria mau mắn đáp “Xin vâng như lời Thiên sứ truyền”. Dịch “Xin vâng” là chưa hết ý, bởi vì “xin vâng” như muốn nói rằng “Tôi sẽ làm theo ý”, tức là nhấn mạnh đến phần của con người. Bản dịch Vulgata (dịch thánh kinh từ tiếng Hypri và Hylạp sang tiếng Latin, của thánh Hiêrônimô) dùng chữ FIAT. Ðây là một động từ ở thể thụ động, hiểu ngầm người tác động là Thiên Chúa. Vì thế nên dịch là “xin hãy thành sự nơi tôi như lời Thiên sứ truyền”. Maria không làm gì cả ngoài việc ngoan ngoãn để cho Thiên Chúa hành động nơi mình. Khi con người để cho Thiên Chúa hành động nơi mình thì dù con người hèn yếu cũng sẽ xảy ra nhiều điều trọng đại. Ngược lại khi con người cậy vào khả năng của mình để hành động thì chẳng làm nên việc gì đáng kể.
@ c 38: Khi hiểu ý Thiên Chúa, Ðức Maria đã khiên tốn để Thiên Chúa thực hiện ý muốn của Thiên Chúa nơi người.
1. Thiên Chúa đã thực hiện những việc phi thường nơi Maria là một con người tầm thường, bởi vì Người đã khiêm tốn để cho Thiên Chúa hành động nơi mình.
2. Ngày nay Thiên Chúa cũng có thể làm nên những việc phi thường nơi những ai khiêm tốn để cho Thiên Chúa hành động nơi mình.
3. Câu tâm niệm: “Chẳng có điều gì mà Thiên Chúa không làm được”; “Con là tôi tớ của Chúa, xin hãy thành sự nơi con như lời của Chúa”.
Ð cc 39-40
– “Khi ấy”: Sau chuyện Thiên sứ báo tin cho Ðức Maria hay sẽ thụ thai Ðấng Messia.
– “Ði vội vã”: Trong Tin Mừng Luca, những người vừa có tin vui đều vội vã chia sẻ niềm vui với người khác (x 2,16: các mục tử; 24,33: các môn đệ Emmau). Ðức Maria vừa nhận được hai tin vui: Bà Isave chị họ của Người đã mang thai trong lúc tuổi già; chính bản thân Người cũng được chọn làm mẹ Ðấng Messia. Do đó Người vội vã đi chia vui với bà Isave.
– “Tới một thành miền núi thuộc xứ Giuđê”: Ðây là thành Ain Karim, cách Giêrusalem khoảng 6 km về phía Tây. Từ Nadarét của Ðức Maria đến Ain Karim phải mất chừng 3,4 ngày đường.
@ cc 39-40: Ngay sau khi biết Thiên Chúa đã chọn mình làm mẹ Ðấng Messia, và hay tin Isave thụ thai, Ðức Maria vội vã đến thành Ain Karim để chia vui với bà Isave.
Ð cc 41-45
– “Nhảy mừng trong dạ”: Không biết trên thực tế có xảy ra thật như vậy không. Nhưng ở đây thánh Luca nói theo niềm tin của người bình dân rằng những cử động của thai nhi là điềm báo trước tương lai của nó (x. St 25,22: Êsau và Giacóp đã tranh chấp nhau ngay từ khi còn trong lòng mẹ). Nói thai nhi nhảy mừng trong lòng mẹ là nói rằng sau này nó sẽ là tiền hô cho Tin Mừng.
@ Thai nhi nhảy mừng trong lòng bà Isave là điềm báo trước nó sẽ là Tiền Hô cho Tin Mừng.
– “Bà vinh phúc giữa các phụ nữ”: Cách nói của người Dothái có nghĩa so sánh tối thượng cấp: Bà là người có phúc nhất trong các phụ nữ.
– “Mẹ của Chúa tôi”: Trong các triều đình, nhà vua thường có nhiều vợ và con trai. Người con nào được chọn làm thái tử để kế vị thì được gọi là “Chúa tôi”, và mẹ của người đó được gọi là “Mẹ của Chúa tôi”. Isave gọi Ðức Maria như thế nghĩa là coi Người là Mẹ Ðấng Messia.
– “Bà phúc thay vì đã tin là sẽ ứng nghiệm lời Chúa nói với Bà”: Isave cũng nghĩ tới chồng mình là ông Dacaria. Cả Dacaria và Ðức Maria đều được Thiên sứ cho hay sắp có con, và cả hai đều hỏi lại. Nhưng câu hỏi của Dacaria biểu lộ sự nghi ngờ không tin, vì thế ông bị câm; còn câu hỏi của Maria biểu lộ sự tin tưởng: hỏi là để hiểu thêm việc mình thụ thai xảy ra thế nào được. Chính vì tin mà Maria có phúc.
@ cc 41-45: Bà Isave xưng tụng Ðức Maria là người diễm phúc nhất và là mẹ Ðấng Messia. Ðược như vậy vì Ðức Maria đã tin vào lời Thiên Chúa.
Sách Samuel thuật chuyện về Hòm Bia Giao ước như sau: Sau khi chiếm được thành của dân Giêbusi và đặt tên lại là thành Giêrusalem, vua Ðavít truyền rước Hòm bia về đấy. Hòm bia được chở trên một chiếc xe do bò kéo. Dọc đường con bò xảy chân, Hòm bia sắp đổ, có người vội đưa tay đỡ lấy, nguời đó liền chết tức khắc. Do đó Ðavít sợ không dám rước Hòm bia về Giêrusalem nữa, mà gửi lại nhà ông Obed Edom trong 3 tháng. Nào ngờ Thiên Chúa chúc phúc cho gia đình ông Obed Edom. Nghe tin ấy, Ðavít hết sợ và rước Hòm bia về Giêrusalem (2Sm 6).
Chuyện trên và chuyện này có nhiều điểm giống nhau:
a) Hòm bia di chuyển về hướng Giêrusalem; Ðức Maria cũng đi về hướng đó.
b) Hòm Bia đã ghé nhà Obed Edom 3 tháng; Ðức Maria cũng ghé nhà bà Isave 3 tháng (c 56).
c) Gia đình Obed Edom được chúc phúc; gia đình bà Isave cũng thế: đứa con nhảy mừng trong lòng mẹ, ông Dacaria sẽ hết câm, bà Isave kêu lên “Bởi đâu tôi được vinh dự thế này là được ơn mẹ của Chúa tôi thăm viếng”.
Như thế, Ðức Maria cũng giống như Hòm Bia vì đang mang Chúa trong lòng, và đi đến đâu thì đem phúc lành đến đó.
@ Vì đang mang Chúa trong lòng nên Ðức Maria đi đến đâu là đem phúc lành đến đó.
1. Ðức Maria là người nhân ái biết chia sẻ niềm vui với kẻ khác.
2. Ðức Maria được diễm phúc vì Người đã tin vào lời Thiên Chúa.
3. Vì mang Chúa trong lòng nên Ðức Maria đến đâu đều đem phúc lành đến đó.
Thánh Luca viết đoạn này giống như một họa sĩ vẽ bộ tranh gồm hai bức đối chọi nhau nhưng làm nổi bật nhau lên: bức thứ nhất (cc 1-8) vẽ cảnh thấp hèn; bức thứ hai (cc 9-20) là cảnh cao sang.
Ð cc 1-8
Ðây là cảnh thấp hèn. Sự thấp hèn của thánh gia và của Ðức Giêsu được mô tả trong các chi tiết sau:
a) Yếu thế trước uy quyền của hoàng đế Lamã:
– “Hoàng đế Augustô”: Tên thực của ông là Octaviô. Nhưng cũng như các hoàng đế Lamã khác tự xưng là thần và bắt dân phải thờ mình, ông còn lấy thêm một tên thần linh cho mình nữa là Augustô. Thánh Luca gọi ông bằng tên thần linh để nhấn mạnh đến uy quyền của ông.
– “Truyền khai sổ nhân dân”: Thánh Kinh coi việc kiểm tra dân số là độc quyền của Thiên Chúa vì chỉ Thiên Chúa mới có thể làm cho dân số tăng thêm (x 2Sm 24: Vua Ðavít lỡ kiểm tra dân số nên bị Thiên Chúa phạt). Chi tiết hoàng đế Lamã truyền kiểm tra dân số cũng nhấn mạnh đến uy quyền của ông.
– Trước uy quyền đó, cha mẹ Ðức Giêsu phải tuân phục, mặc dù thánh Giuse cũng thuộc hoàng tộc Ðavít, và Maria sẽ là mẹ Ðấng Messia.
b) Sinh ra trong cảnh trơ trọi nghèo nàn:
Thánh Luca chỉ dành một câu để mô tả việc Ðức Giêsu sinh ra (c 7), trước đó ngài dành tới 10 câu mô tả việc Gioan Tiền hô sinh ra (1,57-66). Hai cuộc sinh ra này có nhiều điểm khác nhau:
– Gioan được sinh ra trong mái ấm gia đình; Ðức Giêsu sinh ra trong chuồng súc vật
– Bà Isave còn có Ðức Maria giúp đỡ; còn Ðức Maria phải tự lo một mình: “Bà đã sinh con trai đầu lòng, bà lấy khăn bọc con và đặt trong máng cỏ”.
– Bà con lối xóm tới chúc mùng Gioan; còn Ðức Giêsu không ai tới chúc mừng ngoài những mục tử mà chúng ta sắp nói dưới đây.
c) Những người khách hèn hạ:
Câu 12 nói Thiên sứ đã báo tin cho các mục tử đến viếng Ðức Giêsu.
– Mục tử: Ðây không phải là những chủ nhân của đoàn vật mà chỉ là những người nghèo chăn chiên thuê. Vì phải nay đây mai đó dẫn đoàn chiên tới các đồng cỏ nên họ ít khi tham dự những buổi cầu nguyện ngày sabbat ở hội đường, bởi đó họ bị coi là khô khan nguội đạo. Hơn nữa vì túng thiếu nên họ cũng thường trộm cắp, nhất là trộm cắp của chủ, do đó họ còn bị coi là hạng tội lỗi. Luật pháp Dothái kỳ thị họ: không cho họ được như những công dân bình thường đứng ra xử kiện hoặc làm chứng trong những vụ xử kiện.
– Khi Thiên sứ báo tin cho ai thì cũng cho họ một dấu chỉ. Trong những lần hiện ra khác, dấu chỉ mà Thiên sứ đưa ra đều là những việc đặc biệt: trong trường cho Dacaria là việc ông bị câm, cho Ðức Maria là việc bà Isave dù già mà vẫn có con. Còn lần này thì dấu chỉ rất tầm thường: họ sẽ thấy một đứa bé mới sinh bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ. Vậy mà họ phải tin rằng đó là Ðấng Messia.
@ cc 1-8: Ðức Giêsu sinh ra trong cảnh rất thấp hèn: cha mẹ Ngài phải cúi đầu tuân lệnh một ông vua ngoại đạo, Ngài sinh ra trong chuồng súc vật, và chỉ có những mục tử nghèo hèn đến thăm.
Ð cc 9-20
Sang bức tranh thứ hai, cảnh tượng bỗng huy hoàng rực rỡ hẳn lên:
– Thiên sứ hiện ra: Thánh kinh nhiều lần kể việc Thiên sứ hiện ra, nhưng thường chỉ hiện ra một mình và trong dáng vẻ rất bình thường khiến cho có khi người ta không biết đó là Thiên sứ (x St 16 Tl 13). Nhưng lần này Thiên sứ hiện ra có “vinh quang Chúa bao quanh sáng ngời”, còn có “một đoàn vô số thiên binh” tháp tùng, tất cả cất tiếng hát “tán dương Thiên Chúa vang lừng”. Giống như bầu khí của một lễ nghi tôn giáo trọng thể.
– Thiên sứ gọi Ðức Giêsu là “Vị Cứu Tinh”: Các hoàng đế Lamã tự coi mình là vị cứu tinh. Thực tế không đúng như vậy, ngược lại là đàng khác. Thiên sứ gọi Ðức Giêsu là vị cứu tinh để: a) mỉa mai sự tự phụ của hoàng đế Lamã (đối lại với bức tranh thứ nhất); b) nhắc cho người ta nhớ chỉ có Ðức Giêsu là Vị Cứu Tinh thật.
– Lời ca đoàn Thiên sứ hát “... bình an dưới thế cho người thiện tâm” cũng có hai ý đó a) hoàng đế Lamã tự hào với cái gọi là “nền hòa bình Lamã” (Pax romana). Thực ra đó chỉ là hòa bình cho một thiểu số giai cấp thống trị với cái giá biết bao đau khổ của đa số nhân dân bị trị. b) Chỉ có Ðức Giêsu mới đem lại nền hòa bình đích thực.
@ cc 9-20: Nhưng đứa trẻ nghèo hèn ấy chính là Con Thiên Chúa cao sang, là vị cứu tinh của nhân loại.
1. Con Thiên Chúa cao sang đã sinh xuống làm một con người thấp hèn.
2. Thiên Chúa xuống làm người để loài người lên làm Chúa.
3. Ngày xưa các mục tử được mời gọi nhận ra Thiên Chúa cao sang trong dáng vẻ một đứa trẻ yếu đuối nghèo nàn, ngày nay chúng ta cũng được mời gọi nhận ra hình ảnh Thiên Chúa trong những người nghèo khổ và trong những biến cố tầm thường của cuộc sống.
CẦu nguyỆn
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã ban Chúa Giêsu, và Chúa ban hòa bình cho những người thiện tâm. Con cần phải dành thời gian suy gẫm điều này . Trong danh thánh Chúa Giêsu. Amen.
Ð c 21-24
Trong đoạn TM này, chúng ta thấy thánh gia làm 3 việc: a) Cắt bì và đặt tên cho con; b) Thanh tẩy cho người mẹ; c) dâng con trai đầu lòng và chuộc con.
a) Cắt bì và đặt tên cho con: Việc này không phải do tư tế làm ở Ðền thờ, mà do cha mẹ làm cho con trai tại nhà.
b) Thanh tẩy cho người mẹ:
– Sách Lêvi 12,2-8 quy định rằng sau khi sinh con thì người mẹ bị coi là ô uế. Ðến ngày thứ 8 thì phải cắt bì cho con nếu đó là con trai. Kế tiếp người mẹ phải ở cữ thêm 32 ngày nữa (tổng cộng 40 ngày). Nếu sinh con gái thì không phải cắt bì cho nó, nhưng thời gian ô uế kéo dài gấp đôi, nghĩa là 80 ngày. Sau thời gian ô uế đó, người mẹ phải lên Ðền thờ để làm lễ nghi thanh tẩy và phải dâng một con chiên và một con bồ câu (hoặc chim cu). Nếu nghèo thì dâng hai bồ câu hoặc hai chim cu.
– Theo luật trên, chỉ buộc người mẹ lên đền thờ. Nhưng ta thấy cả thánh gia 3 người đều lên đền thờ.
– Thánh gia dâng một cặp bồ câu, tức là lễ vật của người nghèo.
c) Chuộc con trai đầu lòng:
– Xh 13,2.13 quy định rằng mọi con trai đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa (vì xưa kia Thiên Chúa đã giết các con trai đầu lòng Aicập nhưng tha cho các con trai đầu lòng Dothái). Do đó sau khi sinh con trai thì cũng phải dâng nó cho Thiên Chúa. Nếu muốn giữ lại thì phải chuộc bằng một con chiên.
– Việc chuộc con trai cũng không cần đem nó lên đền thờ, chỉ cần mang lễ vật lên thôi. Nhưng 3 người của thánh gia đã lên hết.
Như thế thánh gia làm hơn mức bó buộc của luật.
@ cc 21-24: Thánh gia đã sốt sắng tuân thủ những quy định của luật về việc cắt bì cho con, việc dâng con cho Thiên Chúa và việc thanh tẩy người mẹ một cách chặt chẽ còn hơn mức bó buộc của luật.
Ð cc 25-35
Trong dịp này thánh gia đã gặp cụ già Simêon.
– “Thánh linh hằng ở với ông”: một cách nói rằng ông là một ngôn sứ. Vì ông là ngôn sứ nên “Thánh Linh tỏ cho ông biết rằng trước khi chết ông sẽ xem thấy Ðấng Messia”.
– “Ông hằng trông đợi niềm an ủi Israel”: “Niềm an ủi Israel” cũng là một cách nói về thời kỳ cứu độ của Ðấng Messia. Ông Simêon trông đợi niềm an ủi Israel nghĩa là ông trông đợi Ðấng Messia.
– Do Thánh linh soi sáng, lúc đó ông vào Ðền thờ. Khi gặp Ðức Giêsu ông biết ngay rằng đó là Ðấng Messia, nên bồng Ngài trên tay và cảm hứng hát lên một bài ca đại ý cảm tạ Thiên Chúa đã cho ông được thấy Ðấng Messia.
Ông còn nói tiên tri về Ðức Giêsu và Ðức Maria: những lời tiên tri rất khó hiểu:
– “Con trẻ này sẽ nên duyên cớ cho nhiều người trong Israel phải vấp ngã hay được nâng lên”: sau này, những ai tin vào Ðức Giêsu thì được cứu độ, còn những kẻ chống đối Ngài sẽ bị trầm luân.
– “Tâm hồn bà sẽ bị lưỡi gươm đâm thủng”. Lời này có hai nghĩa: a) Nghĩa thứ nhất dễ hiểu hơn: Ðức Maria sẽ phải đau đớn chứng kiến cái chết của con mình. b) Nghĩa thứ hai sâu sắc và khó hiểu hơn: Ta còn nhớ Thiên Sứ đã chào Ðức Maria bằng những lời mở đầu lời tiên tri Xôphônia “Hãy vui lên hỡi con gái Sion”. “Con gái Sion” là tên gọi văn chương của dân Israel (vì thủ đô nước họ nằm trên đồi Sion). Thiên sứ gọi Ðức Maria như thế nghĩa là Ðức Maria là đại diện của toàn dân Israel. “Lưỡi gươm” là hình ảnh mà Cựu Ước thường dùng để chỉ sự chia rẽ. Vậy lưỡi gươm đâm thủng tâm hồn Ðức Maria trong tư cách là đại diện cho dân Israel nghĩa là dân Israel sẽ chia rẽ nhau vì Ðức Giêsu: kẻ thì tin, người thì không tin. Ðức Maria sẽ chứng kiến cảnh chia rẽ đó.
– “Ðể tâm tư nhiều người phải tỏ bày ra”: Việc Ðức Giêsu đến buộc người ta phải chọn lựa thái độ tin hoặc không tin, như thế tức là tâm tư họ tỏ lộ ra.
Và cũng trong dịp này, thánh gia cũng gặp nữ ngôn sứ Anna. Bà này cũng tạ ơn Thiên Chúa và nói rằng Ðức Giêsu chính là Ðấng Messia.
@ cc 25-40: Trong dịp này, thánh gia đã gặp hai vị ngôn sứ là Ông Simêon và Bà Anna. Cả hai đều tạ ơn Thiên Chúa vì đã cho Ðấng Messia đến. Riêng Ông Simêon còn nói tiên tri rằng nhiều người sẽ tin nhưng cũng có nhiều người không tin vào Ðức Giêsu.
Thánh gia đã giữ luật một cách chín chắn hơn cả mức đòi buộc của luật. Ðó là một tấm gương cho chúng ta.
Ðc 1
Câu này giới thiệu nơi chốn, thời gian và các vai của câu chuyện:
– Nơi chốn là Bêlem xứ Giuđê: Bêlem nghĩa là “nhà của bánh mì”, là một thị trấn nằm cách Giêrusalem khoảng 8 km về phía Nam. Nó cũng còn được gọi là “thành của Ðavít” bởi vì Ðavít đã được xức dầu phong vương tại đây (1Sm 16,4.18). Và ngôn sứ Mikha đã tiên báo rằng Ðấng Messia sẽ sinh ra tại đây (Mk 5,1).
– Thời gian là giai đoạn Hêrôđê đang cai trị xứ Giuđê. Ðây là Hêrôđê Cả (gọi như thế để phân biệt với nhiều người khác cũng mang cùng tên Hêrôđê) Ông kết thân với đế quốc Lamã nên vào năm 47 trước công nguyên được Lamã đặt làm Thủ Hiến (Gouverneur) miền Galilê, đến năm 41 trước công nguyên lại được đặt làm Thái Thú (Tétrarque) rồi làm vua miền Giuđê. Ông cầm quyền cho đến năm 4 công nguyên mới chết.
– Vai chính là các đạo sĩ từ phương đông đến: Chữ “phương Ðông” chỉ vùng ở phía Ðông xứ Palestina, tức là Lưỡng Hà Ðịa (nên xem trên bản đồ). Người ta gọi họ có khi là đạo sĩ, có khi là chiêm tinh gia, có khi là bác học, có khi là vua nữa. Thực ra họ là những giáo sĩ của tôn giáo vùng Lưỡng Hà Ðịa vốn là thứ tôn giáo đa thần (do đó họ được gọi là đạo sĩ); họ cũng là những nhà trí thức nghiên cứu thiên văn (nên còn được gọi là bác học và chiêm tinh gia); căn cứ vào ba món lễ vật họ dâng cho Ðức Giêsu (c 11: vàng, nhũ hương, mộc dược) người ta đoán họ gồm ba người (thực ra thánh Matthêu không nói rõ số lượng mà chỉ dùng số nhiều: c 1 “có mấy đạo sĩ”); và vì những lễ vật đó quý giá thường dùng của các bậc vương giả nên người ta lại nghĩ họ là vua. Óc tưởng tượng bình dân lại còn nghĩ rằng họ gồm một vị da trắng, một vị da vàng và một vị da đen. Người ta còn gọi tên họ là Gaspar, Melkior và Balthasar. Tất cả chỉ là suy đoán thêm. Phần Mt chỉ ghi đó là những Magos (có thể dịch là “đạo sĩ”) từ phương Ðông đến, thế thôi.
@ c 1: Khi Ðức Giêsu sinh ra có những đạo sĩ của tôn giáo đa thần từ vùng Lưỡng Hà Ðịa phía Ðông xứ Palestina tìm đến thành Giêrusalem.
Ð c 2
– Nhiều dân tộc tin rằng mỗi người có một vì sao hộ mạng, người nào càng quan trọng thì sao càng lớn, khi người đó sinh ra thì sao xuất hiện, khi người đó chết thì sao cũng biến mất. Các đạo sĩ này cũng tin như vậy, nên khi nhìn thấy một vì sao lạ trên bầu trời thì suy đoán có một vị vua mới sinh. Tại sao họ suy rằng đó là vua người Dothái? Có lẽ vì họ cũng nghiên cứu Thánh Kinh của người Dothái, trong đó có lời tiên tri của Balaam: “Tôi trông thấy nó nhưng không phải cho bây giờ, tôi ngó thấy nó nhưng không phải gần đây: một tinh tú mọc lên từ Giacóp, một vương trượng dấy lên từ Israel” (Ds 24,17). Câu này chỉ cho biết sẽ có một vị vua (vương trượng, tinh tú) sinh ra ở Israel, nhưng không xác định địa điểm. Vì thế các đạo sĩ biết đến xứ Palestina nhưng không biết đến địa điểm nào đích xác. Họ phải vào hỏi vua Hêrôđê.
– Mặc dù niềm tin vào sao hộ mạng là mê tín, nhưng Thiên Chúa đã dùng nó để dẫn các đạo sĩ đến với Ngài.
@ c 2: Thiên Chúa đã dùng niềm tin mộc mạc của các đạo sĩ vào sao hộ mạng để dẫn họ đến với Ngài.
Ð cc 3-8
– Hêrôđê Cả thực ra không phải là người Dothái chính tông, mà là người Iđumê lai Ả rập. Chỉ vì khéo lấy lòng đế quốc Lamã mà được lên ngôi vua xứ Giuđê. Cho nên dân Dothái không thích ông vì họ chỉ thích một ông vua thuộc dòng giống Dothái. Biết vậy nên Hêrôđê lúc nào cũng sợ bị lật đổ. Khi nghe các đạo sĩ nói có “vua Dothái mới sinh” thì ông hoảng sợ.
– Bản văn còn ghi là cả thành Giêrusalem cũng hoảng sợ cùng với Hêrôđê. Chi tiết này không hợp lý. Nhưng thánh Matthêu ghi như vậy vì có hậu ý ghi một điềm báo trước rằng sau này cả thành Giêrusalem cũng từ chối vương quyền của Ðức Giêsu đến nỗi sẽ giết chết Ngài.
– Hêrôđê cũng tò mò muốn biết đối thủ của mình nên hỏi những người chuyên môn về Thánh Kinh (các thượng tế và thông giáo). Họ tìm trong Thánh Kinh được lời tiên tri của ngôn sứ Mikha (ta đã nói ở trên) cho biết nơi sinh của vua mới ấy là Bêlem. Khi biết thế, Hêrôđê sắp sẵn kế hoạch tiêu diệt Ðức Giêsu, nên ông khôn khéo lợi dụng các đạo sĩ, bảo họ đi dò đường trước rồi về báo cho ông hay “để cả tôi cũng đến thờ lạy Ngài”.
@ cc 3-8: Hêrôđê nghe nói về vua Dothái mới sinh thì sợ mất ngôi. Khi được các nhà chuyên môn Thánh Kinh cho biết Ðấng Messia sinh tại Bêlem, ông bảo các đạo sĩ dò đường đi trước để ông sai người đi sau giết chết Ðức Giêsu một cách âm thầm.
Ð cc 9-12
– Rời hoàng cung, các đạo sĩ lại được ngôi sao dẫn đường cho tới nơi thánh gia đang trọ. Lúc này có lẽ thánh gia không còn ở hang đá nữa mà đã tìm được một nhà trọ rồi. Các ông vào nhà thờ lạy Ðức Giêsu và dâng lễ vật.
– Ba món lễ vật thật là quý giá chứng tỏ lòng thành kính của các ông. Ngoài ra, các nhà đạo đức còn thấy chúng cũng có nghĩa biểu tượng: vàng tượng trưng Ðức Giêsu là Vua, nhũ hương tượng trưng Ðức Giêsu là Tư Tế, và mộc dược tượng trưng Ðức Giêsu cũng là người sẽ phải chết và được ướp xác. Các đạo sĩ có hiểu được những ý nghĩa biểu tương đó không thì ta không biết. Ta chỉ biết rằng tuy họ là lương dân nhưng đã tin kính, thờ lạy và dâng những lễ vật quý giá cho Ðức Giêsu. Ðiều này chứng tỏ Ðức Giêsu đã tỏ mình ra cho cả lương dân nữa, Ngài muốn cứu độ tất cả mọi người.
@ cc 9-12: Việc các đạo sĩ thờ lạy và dâng những lễ vật quý giá cho Ðức Giêsu chứng tỏ Ngài muốn tỏ mình cho cả lương dân và muốn cứu độ mọi người.
1. Chuyện các đạo sĩ tìm đến thờ lạy Ðức Giêsu cho ta biết thời nào cũng có những người thiện chí muốn tìm đạo thật.
2. Chuyện này cũng cho ta thấy Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người không trừ ai.
Ðoạn này gồm 3 chuyện nhỏ:
a) Thánh gia trốn sang xứ Ai cập: cc 13-15
b) Hêrôđê hạ lệnh giết các hài nhi ở Bêlem: cc 16-18
c) Thánh gia trở về Nadarét: cc 19-23
Thánh Matthêu viết đoạn này rất sâu sắc với hậu ý so sánh Ðức Giêsu với Ông Môsê. Hậu ý này nằm trong câu trích dẫn Cựu Ước ở cuối mỗi chuyện nhỏ.
Ð cc 13-15: Chuyện thứ nhất
– Ai Cập: Xứ này ở phía Tây Nam nước Dothái. Ngày xưa gia đình ông Giacóp vì muốn tránh nạn đói ở xứ Canaan nên đã sang tạm trú ở Ai Cập. Nhưng khi con cháu ông sinh sản thêm đông thì vua Ai Cập sợ họ chiếm quyền nên một mặt ra lệnh giết chết các con trai đầu lòng Dothái, mặt khác bắt dân Dothái phải làm nô lệ. Nhưng có một đứa trẻ đã được cứu sống, đó là Môsê. Sau đó Thiên Chúa dùng Môsê giải phóng dân Dothái ra khỏi Ai Cập và trở về Ðất hứa Canaan (x Xh 1-15).
– Giữa chuyện trên và chuyện này có nhiều điểm giống nhau:
a) Cả hai đều nói đến Ai Cập
b) Trong hai chuyện đều có một ông vua tàn ác ra lệnh sát hại các con trai đầu lòng của dân Chúa. Nhưng đều có một đứa trẻ thoát chết.
c) Ðứa trẻ đó sau này sẽ giải phóng dân mình khỏi ách nô lệ.
Như thế, Ðức Giêsu chính là Ông Môsê mới được thoát chết trong cơn tàn sát và sẽ thực hiện một cuộc xuất hành mới đưa dân mới (gồm những kẻ tin vào Ngài) thoát ách nô lệ mới (tội lỗi).
– Thánh Matthêu mặc dù viết về chuyện thánh gia đưa Ðức Giêsu trốn sang Ai cập, nhưng lại nhằm nói đến việc xuất hành từ Ai cập trở về. Do đó ở cuối chuyện này ngài trích câu Cựu Ước: “Ta đã gọi con Ta từ Ai cập về” (Hs 11,1).
@ cc 13-15: Ðể tránh cơn tàn sát của Hêrôđê, Ðức Giêsu phải trốn sang Ai Cập. Nhưng như thế Ngài trở thành Môsê mới sẽ thực hiện cuộc Xuất hành mới để đưa dân mới thoát cảnh nô lệ tội lỗi.
Ð cc 16-18: Chuyện thứ hai
– Giết các hài nhi từ hai tuổi trở xuống: chi tiết này giúp ta hiểu rằng có lẽ thời gian đã trôi qua khá lâu từ khi các đạo sĩ nói với vua Hêrôdê về “vua Dothái mới sinh” đến khi Hêrôđê ra lệnh tàn sát hài nhi Bêlem Số các hài nhi bị giết là bao nhiêu? Ta nên lưu ý rằng ngày xưa đất rộng người thưa, một thành phố lớn như Giêrusalem mà dân số chỉ khoảng 20 ngàn. Vậy thì dân số của thị trấn Bêlem còn ít hơn nhiều (chừng 2000), số trẻ con từ hai tuổi trở xuống còn ít hơn nữa, có lẽ chỉ chừng một hai trăm.
– Văn mạch của câu Cựu Ước mà Mt trích dẫn (câu trích dẫn là Gr 31,15 nằm trong văn mạch rộng hơn, là Gr 31, 15-17) giúp ta biết ý mà Mt muốn gán cho chuyện này. Nhưng để dễ hiểu, cần nhắc lại dài dòng hơn:
Tổ phụ Giacóp có 12 con trai, trong đó hai người ông thương nhất là Giuse và Benjamin vì do Bà vợ Raken yêu quý của ông sinh ra. Giuse có hai con trai là Ephraim và Manassê. Trước khi chết, Giacóp đã nhận hai đứa con này của Giuse làm con của mình. Như thế, kể như Bà Raken và Giacóp có với nhau 3 đứa con. Khi chia Ðất hứa, 3 người này nhận được 3 phần đất mà sau này lúc đất nước chia đôi sẽ là 3 chi tộc mạnh nhất của tiểu vương quốc Israel ở phía Bắc.
Năm 721, đế quốc Assyria xâm chiếm tiểu vương quốc Israel, bắt dân đi lưu đày. Ngôn sứ Giêrêmia đã viết về biến cố này theo óc tưởng tượng của một thi sĩ. Ông tưởng tượng rằng biến cố ấy quá đau thương đến nỗi Bà Mẹ Raken tuy đã chết nhưng cũng đội mồ ngồi dậy than khóc các con mình (là các chi tộc Benjamin, Ephraim và Manassê). Tuy nhiên lời Thiên Chúa đã an ủi bà: “Thôi hãy im đi tiếng khóc và mắt hãy ráo lệ vì chúng sẽ từ xứ quân thù trở về” (Gr 31,16-17). Nghĩa là Thiên Chúa hứa cho dân Israel thoát cảnh nô lệ quân Assyria.
Thánh Matthêu khi kết thúc chuyện này bằng trích dẫn một câu trong đoạn Cựu Ước đó có ý nói thêm một lần nữa rằng Ðức Giêsu chính là người sẽ cứu thoát dân mới khỏi ách nô lệ.
@ cc 16-18: việc các hài nhi bị giết cũng giống như dân Israel bị đế quôc Assyria tàn sát ngày xưa. Nhưng Thiên Chúa sẽ dùng Ðức Giêsu để cứu thoát dân Ngài.
Ð cc 19-23: Chuyện thứ ba
Khi vua Hêrôđê qua đời, Thiên sứ báo mộng cho Thánh Giuse đem Ðức Giêsu và Ðức Maria trở về quê hương, và thánh gia định cư tại Nadarét.
Chuyện này có vài chi tiết đáng lưu ý:
– Lời thiên sứ “Những người tìm giết Hài nhi đã chết rồi”: Thực ra chỉ có mỗi một người tìm giết Hài nhi, đó là vua Hêrôđê, nhưng thánh Matthêu viết thành số nhiều “Những người tìm giết” vì ngài vẫn còn liên tưởng tới chuyện các vua Ai cập tìm giết các hài nhi Dothái và chuyện Môsê được cứu sống. Xh 4,19 ghi: “Yavê phán với Môsê ở Madian: đi đi, hãy trở về Ai Cập, vì chúng đã chết rồi, mọi kẻ tìm hại mạng ngươi”.
– Câu trích dẫn Cựu Ước ở cuối chuyện “Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ nói rằng thiên hạ sẽ gọi Ngài là người Nadarét”: Thực ra Cựu Ước chẳng có câu nào như thế. Chỉ có một câu trong đó có một chữ tương tự với chữ Nadarét, đó là Is 4,2 tiên báo về Ðấng Messia: “Trong ngày ấy, chồi lộc (nésèr) Yavê cho mọc sẽ là ánh huy vinh dự...”. Nghĩa là Matthêu muốn nói Ðức Giêsu chính là Ðấng Messia mà Cựu Ước tiên báo. Hơn nữa việc thánh gia ở Nadarét chỉ là trở về quê cũ thôi chứ không có gì lạ. Nhưng thánh Matthêu lại đưa ra lý do lòng vòng rằng vì thánh Giuse được biết người kế vị Hêrôđê cai trị xứ Giuđê là Arkêlaô con của ông ta nên thánh Giuse không dám định cư ở xứ Giuđê mà lại chọn định cư ở Nadarét. Tất cả sự lòng vòng đó chỉ vì thánh Matthêu muốn dẫn tới trích dẫn câu Is nói trên.
@ cc 19-23: Sau khi Hêrôđê qua đời, thánh gia rời Ai cập về định Cựu Ước tại Nadarét. Ðức Giêsu làm trọn lời tiên tri của ngôn sứ Isaia rằng Ngài chính là “chồi lộc” (nésèr) của một dân mới.
1. Cũng như Môsê ngày xưa, Ðức Giêsu ngay khi mới sinh đã bị tìm giết. Nhưng Thiên Chúa đã cứu thoát Ngài để sau này Ngài lại giải thoát dân Thiên Chúa khỏi ách nô lệ tội lỗi.
2. Những mưu kế thâm độc của loài người không bao giờ phá hỏng được chương trình của Thiên Chúa.
Trước khi đi vào bài này, chúng ta nên tìm hiểu đôi nét về Ðền thờ Giêrusalem và những lễ trọng của đạo Dothái.
1. Ðền thờ GiêrusalemÐền thờ là trung tâm nếp sống tôn giáo của người Dothái. Ngày xưa vừa khi mới bình định xứ sở, Vua Ðavít đã có ý định xây một Ðền thờ. Nhưng ý định này không thực hiện được vì Thiên Chúa chưa cho phép. Khi con của Ðavít là Salomon lên ngôi, ông lập tức cho xây dựng một Ðền thờ nguy nga lộng lẫy ở Giêrusalem. Rất tiếc là Ðền thờ ấy bị phá tan tành vào năm 587 bởi tay quân Babylon và dân Dothái phải bị lưu đày sang Babylon. Sau khi từ chốn lưu đày trở về, người Dothái lại bắt tay ngay vào việc xây dựng một Ðền thờ mới cũng tại Giêrusalem. Nhưng Ðền thờ thứ hai này cũng bị tàn phá khi quân Lamã tấn công vào Giêrusalem. Khi vua Hêrôđê lên nắm quyền, ông cho khởi công xây dựng lại Ðền thờ nữa. Công trình rất công phu và huy hoàng nên mãi tới năm 64 công nguyên mới hoàn thành. Như thế khi chuyện này xảy ra thì Ðền thờ còn chưa xây xong, nhưng cũng tạm dùng được cho các nghi lễ tổ chức trong đó.
Dù Ðền thờ Giêrusalem được xây lại nhiều lần, nhưng cấu trúc chính vẫn luôn giống nhau, nghĩa là được chia làm nhiều gian ngăn cách nhau:
– Gian cực thánh ở sâu nhất, trong đó có chứa Hòm Bia Giao Ước (trong Hòm Bia có hai bia đá lề luật và cây gậy của Aaron). Không ai vào được gian này chỉ trừ vị Thượng Tế mỗi năm vào một lần trong dịp lễ Ðền tội. Giữa gian cực thánh với gian kế tiếp có một bức màn che lớn.
– Gian kế tiếp là gian thánh có đặt bàn thờ và là nơi cử hành các lễ nghi của đạo Dothái như dâng hương, tế lễ. Chỉ có các Tư tế được vào đây.
– Tiếp đến là tiền đường dành cho những người nam Dothái
– Rồi đến tiền đường dành cho những phụ nữ Dothái
– Ngoài cùng là sân mà lương dân cũng đến được.
@ Ðền thờ Giêrusalem là trung tâm đời sống tôn giáo của người Dothái. Ðền thờ đầu tiên được xây bởi vua Salomon đã bị quân Babylon phá hủy. Ðền thờ thứ hai xây dựng lại bởi dân lưu đày trở về cũng bị quân Lamã phá hủy. Ðền thờ thời Ðức Giêsu do vua Hêrôđê xây đến năm 64 công nguyên mới hoàn thành. Ðền thờ Giêrusalem gồm nhiều gian cách biệt hẳn nhau: gian cực thánh, gian thánh, tiền đường cho nam tín hữu, tiền đường cho nữ tín hữu và sân lương dân.
Mỗi năm có 3 cuộc lễ lớn nhất thu hút hiều người hành hương về Giêrusalem:
a) Lễ Vượt Qua (còn gọi là lễ Bánh không men vì trong dịp này người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau diếp đắng) là lễ trọng nhất trong năm, kéo dài tới 7 ngày. Lễ này tưởng niệm việc Thiên Chúa giải phóng dân Dothái khỏi ách nô lệ Ai cập.
b) Lễ ngũ tuần: gọi như vậy vì lễ này diễn ra vào ngày thứ 50 sau lễ Vượt qua. Lễ này tưởng niệm việc Thiên Chúa ban Luật cho dân qua trung gian của Môsê trên núi Sinai. Lễ này trùng với thời kỳ gặt hái nên còn được gọi là Lễ Mùa Gặt, dịp này người ta tạ ơn Thiên Chúa đã ban mùa màng cho họ.
c) Lễ Lều: diễn ra vào mùa thu. Lễ này tưởng niệm thời gian dân Dothái ở trong sa mạc phải trú ngụ dưới những mái lều. Lễ này cũng vào mùa hái trái cây, người ta dựng lều trong các vườn cây để hái trái.
@ Ðạo Dothái mỗi năm có 3 cuộc lễ lớn: Lễ Vượt qua tưởng niệm việc Thiên Chúa giải phóng dân khỏi Ai cập, Lễ Ngũ tuần tưởng niệm việc Thiên Chúa ban luật trên núi Sinai và Lễ Lều tưởng niệm thời gian dân ở sa mạc. Trong 3 dịp lễ này, nhiều người hành hương lên Ðền thờ Giêrusalem.
Ð cc 41-43a
Những câu này cho thấy một số điểm đặc biệt trong việc thánh gia tuân giữ luật đạo Dothái về những cuộc lễ trọng:
– “Hằng năm”: Tuy có luật buộc hành hương lên Giêrusalem dự những cuộc lễ trọng đó. Nhưng trên thực tế những người ở xa thủ đô, nhất là những người Dothái ở nước ngoài, chỉ cố hành hương một lần trong đời thôi. Thánh gia ở Nadarét tận miền Bắc rất xa Giêrusalem tận miền Nam. Thế mà vẫn hành hương hằng năm.
– “Cha mẹ Ðức Giêsu “: Theo Xh 23,17 và Ðnl 16,16 thì luật hành hương chỉ buộc những “nam nhân”. Ðức Maria không phải là nam nhân thế mà cũng hành hương.
– “Khi Ðức Giêsu được 12 tuổi”: Cũng theo hai khoảng luật trên, được kể là “nam nhân” những người nam từ 13 tuổi trở lên. Ðức Giêsu tuổi mới 12 mà cũng giữ luật. Hơn nữa thánh Luca còn ghi nhận là “Các ngài lên đô thành dự lễ theo lệ đã quen”. Không rõ đại từ “các ngài” có gồm Ðức Giêsu trong đó không. Nếu có thì Ðức Giêsu hành hương dự lễ không phải chỉ từ lúc 12 tuổi, mà nhiều lần trước nữa. Rất có thể là như vậy, bởi vì đại từ ở số nhiều bao gồm cả thánh Giuse và Ðức Maria. Nếu cha mẹ cùng đi thì tất Ðức Giêsu cũng đi theo vì Ngài còn nhỏ không ở nhà một mình được.
– “Lễ xong, hai vị ra về”: Lễ Vượt qua kéo dài đến 7 ngày, nhưng chỉ buộc tham dự 3 ngày đầu, còn 4 ngày sau là tùy ý. Chữ “xong” chứng tỏ thánh gia đã dự trọn 7 ngày.
Những chi tiết trên chứng tỏ thánh gia giữ luật đạo rất chín chắn, còn hơn mức đòi buộc của luật.
@ cc 41-43a: Thánh gia đã giữ luật hành hương lễ Vượt qua một cách sốt sắng và chín chắn hơn cả mức đòi buộc của Luật.
Ð cc 43b-47
– “Ðoàn khách hành hương”: Những người đi hành hương vào dịp lễ Vượt qua rất đông nên dễ lạc nhau. Ðường đi lại xa xôi hiểm trở dễ gặp tai nạn. Lại có nhiều đoạn đường vắng thường có trộm cướp phục kích sẵn. Vì thế người ta thường họp thành đoàn khi đi cũng như khi về.
– Khi 7 ngày lễ kết thúc, thánh Giuse và Ðức Maria ra về, còn Ðức Giêsu ở lại mà hai ngài không hay vì tưởng Ngài nhập đoàn những bà con quen biết. Ðến khi các đoàn gặp nhau (một ngày sau) thì các ngài không thấy Ðức Giêsu ở trong những đoàn quen, mới quay trở lại Giêrusalem để tìm Ngài.
– Mãi tới ngày thứ ba mới gặp Ngài ở trong Ðền thờ đang đàm đạo với các bậc tôn sư làu thông Thánh Kinh. Những câu đối đáp của Ngài rất thông minh khiến những vị này phải ngạc nhiên.
@ cc 43b-47: Khi lễ đã xong, cha mẹ Ðức Giêsu ra về còn Ngài ở lại Ðền Thờ đàm đạo với các bậc tôn sư trong đạo một cách rất thông minh khiến họ phải kinh ngạc.
Ð cc 48-50
Những câu này tạo cảm tưởng Ðức Giêsu hỗn láo với cha mẹ. Thực ra chính những câu này là chìa khóa giúp ta hiểu được ý nghĩa việc Ðức Giêsu ở lại Ðền thờ.
– “Nhà Cha của con”: a) Ðức Giêsu dùng tiếng Abba, tiếng thân mật của đứa trẻ gọi cha mình (như tiếng Ba, Bố của VN). Người Dothái không dám gọi Thiên Chúa như thế vì sợ bất kính. Nhưng Ðức Giêsu dám, chứng tỏ Ngài rất yêu mến và tin cậy Chúa Cha. b) Khi trả lời với thánh Giuse và Ðức Maria rằng nhà của Thiên Chúa (Ðền thờ) là nhà của Cha mình, Ðức Giêsu cũng hé mở cho các vị biết Ngài là Con của Thiên Chúa; ngoài bổn phận đối với các vị là cha mẹ đang nuôi dưỡng mình, Ngài còn có bổn phận với Cha trên trời nữa. Như thế là Ðức Giêsu chuẩn bị tâm lý trước cho hai vị để sau này Ngài rời gia đình ra đi thi hành sứ mạng Chúa Cha giao phó.
– Trong Tin Mừng Luca, đây là lời nói đầu tiên của Ðức Giêsu được ghi lại và là lời nói về Chúa Cha. Lời nói cuối cùng của Ngài trước lúc tắt thở cũng là nói về Chúa Cha: “Con phó linh hồn trong tay Cha”(23,46). Và lời nói cuối cùng của Ngài sau khi sống lại và trước khi lên trời cũng là nói về Chúa Cha: “Thầy sẽ sai xuống với các con Ðấng mà Cha Thầy đã hứa” (24,49). Như thế chuyện này mặc khải Ðức Giêsu là Con của Thiên Chúa.
– Trong TM Luca, những việc quan trọng đều diễn ra trong Ðền thờ: cảnh đầu tiên của tác phẩm là Dacaria tế lễ trong Ðền thờ (1,5t); cảnh đầu tiên Ðức Giêsu xuất hiện trước công chúng là chuyện này cũng diễn ra trong Ðền thờ; cảnh cuối cùng là các môn đệ họp nhau cầu nguyện trong Ðền thờ (24,33). Vậy mặc khải thứ hai của chuyện này là: Ðức Giêsu chính là Ðền thờ đích thực, mọi việc thờ phượng đều phải qua trung gian của Ngài, nếu chỉ có lễ nghi bề ngoài thì đều không giá trị.
@ cc 48-50: Chuyện này mặc khải hai điều: Ðức Giêsu chính là Con của Chúa Cha, đến trần gian để thi hành sứ mạng Chúa Cha giao phó; Ðức Giêsu là Ðền thờ đích thực, mọi việc thờ phương đều phải qua trung gian của Ngài.
Ð cc 51-52
– “Rồi Ðức Giêsu xuống theo hai vị về Nadarét và hằng vâng lời cha mẹ”: Ðức Giêsu không phải là một đứa con hỗn láo như cảm tưởng sai lầm về chuyện này gây ra. Ngài “hằng vâng lời cha mẹ”.
– “Nhưng cả hai không hiểu”: “Không hiểu” là một đề tài lớn trong TM Luca. Nhiều lần Luca nói người ta “không hiểu” (x thêm 9,45 18,34 24,25). Lần nào cũng liên quan tới việc Ðức Giêsu ám chỉ cuộc chịu nạn và chịu chết của Ngài. Như thế chuyện này cũng là một ám chỉ rằng Ðức Giêsu sẽ từ giã gia đình ra đi để chịu nạn chịu chết cứu nhân loại. Nhưng lúc đó Thánh Giuse và Ðức Maria chưa hiểu.
@cc 51-52: Sau việc ở lại Ðền thờ, Ðức Giêsu đã về sống với gia đình ở Nagiarét, vâng phục cha mẹ, chờ ngày từ giã gia đình ra đi thi hành sứ mạng của Chúa Cha.
Ðức Giêsu là một người con hiếu thảo của Thánh Giuse và Ðức Maria, nhưng cũng là Con của Chúa Cha phải lo chu toàn nhiệm vụ Chúa Cha giao phó. Ngài dạy mỗi người chúng ta cũng phải lo chu toàn hai nhiệm vụ dối với cha mẹ phần xác và Thiên Chúa trên trời.
Đ cc 1-2a
Thánh Luca là một soạn giả Tin Mừng quan tâm đến lịch sử hơn những vị khác.
- “Năm hoàng đế Tibêriô thứ 15” : tính ra công nguyên thì tương đương với năm 28 hoặc 29.
- Trong bảng liệt kê những vị đang cầm quyền dân sự và tôn giáo thời đó, ta hãy chú ý sự chọn lựa hữu ý của thánh Luca :
+ 2 vị nắm quyền ở phần đất do thái : Ponxiô Pilatô tổng trấn xứ Giuđê, Hêrôđê Antipas phó vương xứ Galilê.
+ 2 vị nắm quyền ở phần đất lương dân : Philíp phó vương xứ Ituri và Trakônitiđê, Lysani phó vương xứ Abilen.
+ 2 vị nắm quyền trong đạo : Các thượng tế Anna và Caipha.
Mở đầu bài tường thuật với tên tuổi những vị cầm quyền cùng những vùng đất và những lãnh vực hành quyền như thế, Thánh Luca muốn lưu ý đến bối cảnh phổ quát của lời Gioan rao giảng : Tin Mừng mà Gioan chuẩn bị sẽ được gởi đến cho mọi người dù là do thái hay dân ngoại.
@ cc 1-2a : Gioan xuất hiện để dọn đường cho Tin Mừng được gởi đến mọi người.
Đ cc 2b-14
- “Có lời TC truyền dạy ông Gioan” : Câu dẫn nhập này giống với câu dẫn nhập vào chuyện ngôn sứ Giêrêmia (Gr 1,2 “Có lời Yavê đến với ông (Giêrêmia) ...”. Thánh Luca ngầm nói Gioan cũng là 1 ngôn sứ. Sau gần 5 thế kỷ im tiếng ngôn sứ (x Tv 74,9 1Mcb 4,46 9,27 14,41), nay một ngôn sứ mới xuất hiện để dọn đường cho Đấng Messia.
- Nội dung lời rao giảng của Gioan cũng giống với các ngôn sứ thời CƯ : “Hãy ăn năn trở lại”. TC đã vạch cho con người một con đường dẫn tới hạnh phúc thật, nhưng con người luôn đi lệch đường nên phải khổ. Do đó ăn năn trở lại là điều luôn cần thiết.
- Nhưng hơn các ngôn sứ thời xưa, Gioan còn kêu gọi “... rồi chịu thanh tẩy” : Thực ra thanh tẩy của Gioan không tẩy xóa tội lỗi được như Bí tích Thanh Tẩy mà ĐG sẽ lập, nó chỉ là một hình thức bề ngoài để bày tỏ cách cụ thể quyết tâm ăn năn trở lại. Nhưng ta thấy lời kêu gọi của Gioan khẩn thiết hơn các ngôn sứ ngày xưa : không chỉ ăn năn trở lại bằng ý muốn hoặc bằng tình cảm suông, mà còn phải thể hiện cụ thể sự ăn năn trở lại ấy.
- Thể hiện chẳng những bằng nghi thức thanh tấy mà còn bằng việc thay đổi nếp sống. Người ta thường sống ích kỷ mạnh ai nấy lo cho mình, tham lam vơ vét vào túi không bao giờ đủ, và chèn ép kẻ khác. Do đó Gioan khuyên quần chúng đừng ích kỷ nhưng phải biết chia cơm sẻ áo cho nhau ; khuyên những người thu thuế đừng tham lam đòi quá mức thuế ấn định để cất phần dư vào túi riêng ; và khuyên những quân nhân đừng lạm dụng quyền hành để áp bức kẻ yếu thế.
- Nội dung rao giảng của Gioan có phần tiêu cực (đừng, đừng, đừng...). Sau này ĐG sẽ rao giảng tích cực hơn (x Lc 6,27-36 : tha thứ, làm ơn và yêu thương mọi người kể cả kẻ thù, theo gương Chúa Cha trên trời). Bởi vì Gioan chỉ là người dọn đường, bước đầu chỉ là dọn dẹp những gai góc, lồi lõm, quanh co. Phần trải nhựa cho đẹp là chuyện của giai đoạn sau.
@ cc 2b-14 : Gioan kêu gọi người ta ăn năn trở lại, thể hiện cụ thể bằng việc thanh tẩy và từ bỏ những ích kỷ, tham lam và chèn ép kẻ khác.
Đ cc 15-18
- Xin nhắc lại : ngay khi phạt tội nguyên tổ, TC đã hứa ban Đấng Messia để cứu thoát loài người. Vì thế dân do thái trong những lúc khổ sở thường mong đợi Đấng Messia. Nhất là khi đó họ đang sống dưới ách đô hộ của đế quốc La mã. Khi họ thấy Gioan là một nhân vật đặc biệt với lời rao giảng và phép thanh tẩy chuẩn bị cho 1 thời kỳ mới, họ tưởng ngài chính là Đấng Messia.
Gioan vừa đính chính mình không phải là Messia, vừa tiết lộ rằng Đấng Messia sắp đến :
- “Tôi thanh tẩy bằng nước... Ngài thanh tẩy trong Thánh linh và lửa” : Nước chỉ chảy lướt qua ngoài da, Thánh Linh mới xuyên thấu tâm hồn, và lửa mới thanh luyện hoàn toàn . Như đã nói ở trên, thanh tấy của Gioan chỉ là một hình thức biểu lộ lòng ăn năn, còn Bí tích Thanh Tẩy mà ĐG sẽ lập mới tẩy sạch tội lỗi (lửa) và ban một sự sống mới (Thánh Linh).
- “Tôi không đáng xách dép cho Ngài” : theo tục lệ thời đó, khi ông chủ đi đâu thì có đầy tớ đi theo. Chủ vào nhà thì đầy tớ cởi dép cho chủ. Nếu chủ vào thăm nhà người khác thì đang khi chủ nói chuyện, đầy tớ đứng bên cạnh xách dép, lúc nói chuyện xong ra về thì đầy tớ mang dép lại cho chủ. Qua câu này, Gioan khiêm tốn tự nhận mình chỉ là đầy tớ của Đấng Messia.
- Tiếp theo, Gioan giới thiệu đôi nét về Đấng Messia. Những hình ảnh lúa và trấu, cất lúa vào kho và đun trấu trong lò lửa muốn nói đến việc thanh trừng : thưởng người tốt và phạt kẻ xấu. Ý Gioan muốn cảnh cáo : phải lo ăn năn trở lại thành người tốt để được thưởng, ai không ăn năn trở lại thì sẽ bị phạt.
@ cc 15-18 : Gioan khiêm tốn nói rằng mình không phải là Đấng Messia mà chỉ là đầy tớ của Ngài, và Gioan cảnh cáo mọi người phải ăn năn sám hối để khỏi bị trừng phạt.
1. Ăn năn trở lại là điều cần phải làm luôn, vì con người thường đi lạc xa đường ngay chính.
2. Gioan nêu gương khiêm tốn chỉ biết chu toàn nhiệm vụ chứ không ham lợi lộc vinh quang.
Ð c 13
– Thiên Chúa làm gì cũng chuẩn bị kỹ lưỡng. Trước khi Ðức Giêsu rao giảng Tin Mừng, Thiên Chúa đã cho Gioan tiền hô dọn đường bằng cách kêu gọi người ta ăn năn trở lại và biểu lộ lòng ăn năn ấy bằng việc chịu thanh tẩy. Rồi đến lúc Ðức Giêsu xuất hiện. Ngài từ giã nếp sống ẩn dật ở Nadarét để ra mắt dân chúng. Lẽ ra theo chúng ta tưởng thì Ðức Giêsu sẽ ra mắt dân chúng bằng một việc gì đó ngoạn mục phi thường để thu hút sự chú ý của dân chúng. Nhưng nào ngờ Ngài âm thần hòa mình trong đám đông xếp hàng chờ xin Gioan thanh tẩy.
@ c 13: Ðức Giêsu từ giã nếp sống ẩn dật và ra mắt dân chúng một cách âm thầm bằng cách hòa mình vào đám đông xin Gioan thanh tẩy.
Ð cc 14-15
– Ðến lượt Ðức Giêsu chịu thanh tẩy, Gioan nhận ra Ngài ngay nên từ chối, vì ông thấy mình bất xứng: ông chỉ là một người phàm đầy tội lỗi và chỉ đáng làm đầy tớ của Ðức Giêsu làm sao ông dám thanh tẩy cho Ngài.
– Nhưng Ðức Giêsu bảo Gioan cứ tiến hành thanh tẩy, vì “chúng ta cần làm trọn sự công chính”. Trong TM Matthêu, chữ “công chính” có nghĩa là làm theo ý Thiên Chúa. Ý Thiên Chúa là muốn Ðức Giêsu mang thân phận làm người, gánh lấy tội lỗi của loài người. Cả Ðức Giêsu lẫn Gioan (“chúng ta”) đều phải tuân theo thánh ý đó. Nghe thế, Gioan liền thanh tẩy cho Ðức Giêsu.
@ cc 14-15: Ban đầu Gioan từ chối vì thấy mình bất xứng. Nhưng khi Ðức Giêsu bảo cần phải làm theo thánh ý Thiên Chúa thì Gioan đã thanh tẩy cho Ðức Giêsu.
Ð c 16
Khi Ðức Giêsu thanh tẩy xong thì xảy ra những hiện tượng đặc biệt:
– “Các tầng trời mở ra”: Truyền thống Dothái nghĩ rằng sau khi các ngôn sứ cuối cùng (Khácgai, Dacaria, Malakhi: thế kỷ VI và V trước công nguyên) thì trời đã đóng lại, liên lạc giữa Thiên Chúa và loài người bị cắt đứt, Thánh linh bị dập tắt. Vì thế người Dothái thường cầu xin rằng: “ Chớ chi Ngài xé trời ngự xuống” (Is 63,19b). Lời kêu xin này hôm nay được đáp ứng: trời đã mở ra lại. Ðó là dấu liên lạc giữa Thiên Chúa và loài người được nối lại và Ðấng Messia mà người ta hằng trông đợi đã đến.
– “Thánh linh như bồ câu ngự xuống trên Ngài”: Trước đây Thánh Linh bị dập tắt thì bây giờ Thánh Linh ngự xuống trên Ðức Giêsu. Chi tiết này có nghĩa Ðức Giêsu chính là Ðấng Messia mang ơn tha thứ cho loài người (x Cv 2,37-38). Ngoài ra, Thánh linh cũng là nguyên lý sáng tạo: Sách sáng thế nói rằng lúc sáng tạo vũ trụ, Thánh Linh như chim bồ câu bay là là trên mặt nước hỗn độn. Hôm nay Thánh Linh xuất hiện nghĩa là bắt đầu một cuộc tạo dựng mới.
@ c 16: Trời mở ra và Thánh linh như bồ câu ngự xuống trên Ðức Giêsu nghĩa là đã chấm dứt thời kỳ đứt liên lạc giữa Thiên Chúa với loài người và bắt đầu một thời kỳ mới.
Ð c 17
Lại có tiếng bởi lời phán xuống:
– “Tiếng bởi lời” là một cách nói tránh né về tiếng của Thiên Chúa Cha.
– “Ðây là Con Ta”: Cách nói này trong Tv 2,7 chỉ về Ðấng Messia.
– “Con Ta ưu ái”: Cách nói này trong St 22,2 chỉ về Isaac, con ưu ái của Abraham, nhưng tự nguyện làm lễ vật cho Abraham hiến tế lên Thiên Chúa.
– “Làm cho Ta vui thỏa hoàn toàn”: Cách nói này trong Is 42,1-2 chỉ Người Tôi Tớ vô tội nhưng chịu khổ để đền tội muôn dân.
Tóm lại, bằng những lời súc tích ý nghĩa Cựu Ước, Chúa Cha giới thiệu cho người ta biết Ðức Giêsu chính là Ðấng Messia đến mang lấy tội loài người để cứu loài người. Thánh Linh dưới hình chim câu cũng xác nhận điều đó.
@ c 17: Chúa Cha và Chúa Thánh Linh giới thiệu cho người ta biết Ðức Giêsu chính là Ðấng Messia gánh tội loài người.
1. Mọi người, kể cả thánh Gioan lẫn Ðức Giêsu và chúng ta, đều phải làm theo thánh ý Thiên Chúa. Ðó mới là sống công chính thật.
2. Ðức Giêsu là Ðấng Messia. Nhưng Ngài không thích làm những điều phi thường ngoạn mục. Trái lại Ngài muốn làm một người tôi tớ hèn mọn gánh tội loài người để cứu loài người.
Ð cc 12-16
– “Gioan bị tù”: Sau này thánh Matthêu sẽ kể rõ hơn về chuyện này (ở Mt 14,3-12). Còn ở đây Matthêu chỉ nói ngắn gọn như vậy để cho thấy là sứ vụ của Gioan đã chấm dứt, và sứ vụ của Ðức Giêsu bắt đầu.
– Ðức Giêsu bắt đầu sứ vụ của mình ở tại xứ Galillê. Xứ này vốn được coi là “vùng đất của chư dân” (Is 8,23) vì là ngã tư qua lại của nhiều dân tộc, giáp ranh với nhiều lãnh thổ lương dân: phía Bắc là Tyrô và Siđon vùng Syro-Phênixi (nay là nước Liban) còn phía Ðông nam là vùng Thập tỉnh (nay là nước Giocđani). Ðức Giêsu đã chọn Galilê làm môi trường hoạt động trước tiên và ưu tiên như thế chứng tỏ Ngài muốn đem Tin Mừng cho tất cả mọi dân tộc.
– Phần lớn lãnh thổ Galilê thuộc chi tộc Dabulon và Néptali, dù vậy cũng có nhiều lương dân sống trong đó lẫn lộn với người Dothái. Ngày xưa ngôn sứ Isaia đã tiên báo rằng lương dân ở đó sẽ nhận thấy ánh sáng cứu độ (Is 8,23-9,1). Lời tiên tri này hôm nay được Ðức Giêsu làm ứng nghiệm.
@ cc 12-16: Sứ vụ của Gioan chấm dứt thì sứ vụ của Ðức Giêsu bắt đầu. Ngài ưu tiên đến rao giảng tại Galilê vì ở đấy có nhiều lương dân.
Ð c 17
– “Các ngươi hãy ăn năn trở lại”: so sánh với Mt 3,2 ta thấy nội dung lới rao giảng của Ðức Giêsu và của Gioan giống nhau.
– “Vì triều đại nước Trời đã đến”: Nhưng Ðức Giêsu nói thêm tại sao ăn năn trở lại: Vì nước Trời đã đến. Từ khi lưu đày trở về, dân Dothái luôn mong chờ tới ngày chính Thiên Chúa đích thân đến thiết lập triều đại của Ngài trên mặt đất này (x Mk 4,7 Xp 3,15 Dcr 14,9). Nay Ðức Giêsu thực hiện điều đó.
@ c 17: Nội dung chính của lời Ðức Giêsu rao giảng là hãy ăn năn trở lại vì vương triều Nước Trời đã đến.
1. Nơi Ðức Giêsu chọn để bắt đầu sứ vụ là vùng đất có nhiều người lương.
2. Việc đầu tiên Ðức Giêsu kêu gọi là hãy ăn năn trở lại.
Ð cc 1-2
– “Cana”: một làng nhỏ nằm cạnh bờ Hồ Ghênêzarét, cách Nadarét chứng 3, 4 giờ đi bộ.
– “Ðám cưới”: thời Ðức Giêsu đám cưới Dothái kéo dài tới 7 ngày (đối với phụ nữ tái giá thì chỉ 3 ngày); khách mời rất đông: mời hết bà con, ngay cả thân nhân của bà con cũng có thể tham dự. Ðám cưới này là bà con của thánh gia cho nên có Ðức Maria và Ðức Giêsu dự, và có cả những môn đệ mà Ðức Giêsu vừa kêu gọi là Anrê, Gioan, Phêrô, Philipphê và Batôlômêô (x Ga 1,35-51). Không thấy thánh Giuse dự vì có lẽ ngài đã qua đời. Một đám cưới kéo dài và đông người như vậy thì phải chuẩn bị thật nhiều thức ăn và rượu.
@ cc 1-2: Ðức Giêsu làm phép lạ đầu tiên tại Cana gần Nadarét trong một đám cưới có sự tham dự của Ðức Maria và các môn đệ đầu tiên.
Ð c 3-4
– “Họ không còn rượu nữa”: Ðây không phải chỉ là một nhận xét, cũng không phải là sự bó buộc, mà là l lời Ðức Maria gợi ý để Ðức Giêsu ra tay giúp đỡ.
– “Thưa Bà, bà muốn con làm gì, Giờ con chưa đến”: Ðây là câu gay go nhất của đoạn này. Mới đọc, ta cảm thấy Ðức Giêsu có vẽ bất kính với Ðức Maria. Muốn hiểu được câu này ta phải xem tới văn mạch xa của nó.
a) Ðức Giêsu là một người con luôn kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ (x Lc 2,51), do đó ta không thể giải thích bất cứ câu nói nào của Ngài là bất kính với cha mẹ.
b) Trong chuyện Ngài ở lại Ðền thờ lúc 12 tuổi, Ðức Giêsu đã nói với cha mྐྵ một câu cũng lạ thường “Cha mẹ tìm con làm gì? Cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con sao?”(Lc 2,49). Ðó không phải là l câu bất kính, mà là một câu nhắc cho hai vị nhớ Ngài là Con Thiên Chúa và cũng có bổn phận đối với Thiên Chúa.
c) Cũng như chúng ta, người Dothái gọi người phụ nữ sinh ra mình là Immâ, mẹ. Nhưng gọi những phụ nữ khác là Bà. Ở đây Ðức Giêsu nói không trong tư cách là con của Ðức Maria mà trong tư cách là Ðấng Messia. Việc Ngài sắp làm cũng trong tư cách Messia ấy.
d/ Chữ GIỜ trong Tin mừng Gioan có ý nghĩa rất đặc biệt: nó chỉ lúc Ðức Giêsu ở trên Thập giá. Nhìn dưới con mắt loài người thì đó là lúc đau đớn và thất bại, nhưng nhìn theo kế hoạch của Thiên Chúa thì đó là lúc Ngài chính thức lên ngôi Messia, là lúc vinh quang Ngài tỏ hiện hơn cả. Cả cuộc đời Ngài nhắm tới Giờ ấy.
Như thế câu này có nghĩa như sau: Thưa Mẹ, xin đừng can thiệp vào bổn phận mà Chúa Cha giao cho con. Nay chưa tới lúc con bày tỏ vinh quang Messia của con.
@ cc 3-4: Ðức Giêsu không bất kính với Ðức Maria, nhưng muốn cho Người biết rằng Ngài đang làm công việc của Ðấng Messia, và nay chưa tới lúc Ngài bày tỏ vinh quang Messia.
Ð c 5
– Dù vậy, Ðức Maria cũng nói với gia nhân: “Cứ làm theo lời Ngài bảo”. Câu này giống câu Pharaô nói với dân Ai cập cứ làm theo lời Giuse bảo (x St 41,55), chứng tỏ một sự tín nhiệm tuyệt đối.
@ c 5: Vì tin tưởng tuyệt đối vào Ðức Giêsu nên Ðức Maria bảo gia nhân cứ làm theo lời Ngài bảo.
Ð cc 6-10
Mặc dù chưa tới lúc Ðức Giêsu tỏ vinh quang Ngài ra, nhưng, theo gợi ý của Ðức Maria, Ngài sẵn lòng làm một phép lạ như dấu chỉ cho người ta biết phần nào về vinh quang của “Giờ” ấy.
– “Có 6 chum bằng đá người Dothái dùng làm lễ rửa”: đạo Dothái buộc tẩy rửa nhiều lần: khi ở ngoài về nhà, trước khi ăn v.v. Ðám cưới này có nhiều khách nên cần rất nhiều nước để tẩy rửa.
– “Mỗi chum chừng 2, 3 thùng nước”: “Thùng” trong nguyên bản Hylạp là Epha, khoảng 45 lít. Như thế mỗi chum chứa hơn 100 lít, 6 chum hơn 600 lít, tức là một lượng nước rất lớn.
– Ðức Giêsu đã làm cho tất cả nước ấy thành rượu, mà lại là rượu ngon hảo hạng khiến chủ tiệc còn phải ngạc nhiên.
@ cc 6-10: Ðức Giêsu đã làm cho hơn 600 lít nước biến thành rượu ngon hảo hạng.
Ð cc 11-12
Những câu này chứa những chi tiết giúp ta hiểu được mục đích của Ðức Giêsu:
– “Dấu ch࿉”: Dấu chỉ là dấu hiệu ch࿉ một điều khác. Thí dụ những bảng chỉ đường giúp ta biết theo hướng nào để tới được nơi mà bảng đó chỉ. Người đi đường nhìn bảng nhưng không dừng lại nơi bảng, trái lại phải đi theo hướng mà bảng chỉ. Các phép lạ của Ðức Giêsu đều là những dấu chỉ về Giờ của Ngài. Phép lạ này cũng thế.
– “Các môn đệ tin vào Ngài”: mục đích thứ hai của Ðức Giêsu khi làm phép lạ này là để những môn đệ vừa được kêu gọi thêm tin vào Ngài hơn.
@ cc 11-12: Ðức Giêsu làm phép lạ này như dấu chỉ về sứ mạng Messia của Ngài, và để các môn đệ tin vào Ngài hơn.
Ðây là lần đầu tiên trong tài liệu này chúng ta tiếp xúc với Tin Mừng Gioan vốn là một quyển có ý nghĩa rất sâu sắc. Trong đoạn này Gioan dùng 3 biểu tượng mà Thánh Kinh quen dùng:
1. Biểu tượng nướcÐạo Dothái dùng nhiều nước trong những lễ nghi thanh tẩy. Chính Gioan cũng nhắc ta điều ấy khi ghi nhận: “Ở đấy có 6 chum nước người Dothái dùng làm lễ rửa”. Như vậy nước là biểu tương của đạo Dothái.
2. Biểu tượng rượuTrong Thánh Kinh, rượu chỉ sự vui mùng hoan lạc. Ðức Giêsu tự ví mình là rượu mới (x Mt 9,17), Ngài lấy rượu biến thành máu để thiết lập Giao ước mới (x Mt 26,27-29). Như thế rượu là biểu tượng đạo mới của Ðức Giêsu.
3. Biểu tượng tiệc cướiTrong Thánh Kinh, tiệc cưới là hình ảnh của ơn Thiên Chúa ban vào thời cứu độ (x Kh 19,7-9 21,2).
Theo tục lệ Dothái, chính chàng rễ có nhiệm vụ cung cấp rượu. Trong tiệc cưới biểu tượng của thời cứu độ này, chính Ðức Giêsu là chàng rễ vì chính Ngài cung cấp rượu.
Như vậy ý nghĩa sâu xa của phép lạ này là: Ðức Giêsu thay thế đạo cũ Dothái (nước) bằng đạo mới của Ngài (rượu). Trong đạo mới này Ngài sẽ làm cho người ta vui mừng hoan lạc (rượu), và vui mừng hoan lạc một cách tràn trề (hơn 600 lít rượu)
@ Phép lạ này còn có ý nghĩa sâu xa là Ðức Giêsu thay thế đạo cũ Dothái bằng đạo mới của Ngài, trong đó Ngài sẽ làm cho người ta hoan lạc tràn trề.
Ð cc 1-3
– Chuyện này xảy ra ở Hồ Ghênêzarét. Hồ này còn có nhiều tên khác nữa: Biển Hồ, Hồ Tibêriát, Hồ Galilêa. Nó ở miền Galilê, nhận nước từ sông Giođan đổ vào. Chiều ngang 12 km, chiều dài 20 km, sâu 50 m. Quanh hồ có núi bao bọc. Khi gió mạnh thổi qua thì bị cuốn vòng vòng giữa các vách núi nên thường tạo thành những cơn lốc gây bão trên mặt hồ, nhưng bão rất chóng tan (xem bảng đồ số 8).
– Phía trước đoạn này, thánh Luca cho biết rằng Ðức Giêsu đã cứu chữa rất nhiều bệnh nhân (4,31-41). Do đó danh tiếng Ngài đã lan rộng, Ngài đi đâu thì cũng có đông người đi theo.
– Ngày xưa không có những phương tiện khuếch âm và phóng thanh nên khi muốn nói với một đám đông thì phải đứng ở một nơi cao, hoặc ít ra là đứng xa đám đông để nhờ có khoảng cách mà đám đông dễ thấy mình và chú ý tiếng nói của mình. Lúc đó Ðức Giêsu ở bờ biển nên không có chỗ cao, Ngài mới xuống thuyền để ra xa đám đông một khoảng. Thuyền đó của Simon.
@ cc 1-3: Vì biết Ðức Giêsu làm nhiều phép lạ nên người ta theo Ngài rất đông, Ðức Giêsu phải xuống thuyền của Simon, nhờ ông chèo ra xa để từ thuyền giảng dạy dân chúng.
Ð cc 4-10a
– Ta cũng nên biết kỹ thuật đánh cá: người ta thường đánh cá ban đêm vì đó là lúc cá đi ăn (ban ngày có mặt trời, mặt nước nóng nên cá lặn sâu xuống phía dưới). Bởi đó sau khi giảng xong Ðức Giêsu bảo Simon chèo thuyền ra khơi đánh cá thì ông thưa lại là không thể có cá được, dù vậy vì vâng lời nên ông cũng làm theo. Nào ngờ mẻ lưới đó bắt được rất nhiều cá đến nỗi phải nhờ thuyền khác tới giúp. Cá chất đầy cྣ hai thuyền đến gần chìm.
– “Simon Phêrô sấp mình dưới chân Ðức Giêsu “: cử chỉ rất tôn kính, thường dùng trong tôn giáo. Ðây là dấu chỉ Phêrô đã nhận ra Ðức Giêsu có một cái gì đó thần thánh.
– Chẳng những thế, ông còn gọi Ðức Giêsu là “Lạy Chúa”: một dấu chỉ nữa là Phêrô nhận ra tính cách thần thánh nơi Ðức Giêsu.
– “Xin lìa xa con vì con là người tội lỗi”: vì Phêrô thấy mình bất xứng trước Ðức Giêsu là một bậc thần thánh. Ngày xưa khi Môsê biết có Thiên Chúa trong bụi gai thì cũng sấp mình xuống và lấy tay che mặt lại. Các bạn của Phêrô là Giacôbê và Gioan cũng kính phục Ngài như thế.
@ cc 4-10a: Ðức Giêsu bảo Phêrô đánh lưới vào lúc lẽ ra không có cá. Nhưng mẻ lưới lại được rất nhiều cá khiến ông nhận biết Ðức Giêsu có quyền phép cao cả. Ông cảm thấy mình bất xứng nên xin Ðức Giêsu xa lánh mình.
Ð cc 10b-11
– Nhưng Ðức Giêsu bảo các ông “Ðừng s”: Kiểu nói này thường gặp trong Cựu Ước trong những đoạn Thiên Chúa (hoặc Thiên sứ) hiện ra với con người. Thiên Chúa trấn an con người đừng vì thấy mình bất xứng mà hoảng sợ. Thánh Luca cũng thường ghi lại kiểu nói này (x 1,13.30 2,10 8,50 12,7.32).
– “Từ đây con sẽ chài lưới người”: ý Ðức Giêsu bảo Phêrô đi theo Ngài loan báo Tin Mừng.
– “Bấy giờ các ông chèo thuyền vào bãi, bỏ mọi sự mà đi theo Ngài”: Trong tiếng Hypri, “đi theo” có nghĩa là “làm môn đệ”; “bỏ mọi sự” cũng là điều mà Ðức Giêsu thường khuyên những người muốn đi theo Ngài (5,11.28 18,22)
@ cc 10b-11: Mặc dù bất xứng, nhưng Phêrô và các bạn đã được Ðức Giêsu kêu gọi làm môn đệ Ngài.
1. Quyền phép Thiên Chúa có thể làm được những điều mà người ta tưởng không thể được.
2. Dù bất xứng, nhưng Phêrô và các bạn đã được Ðức Giêsu kêu gọi làm môn đệ Ngài.
3. Làm môn đệ Chúa thì phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự.
Ð cc 12-13
– Ðức Giêsu rất thường cầu nguyện (x Lc 5,16 9,18.28-19 10,21 11,1 22,32.40-46 23,36-34...), nhất là trước khi quyết định một việc quan trọng. Khi cầu nguyện, Ngài thường đến nơi thanh vắng (trong đoạn này là trên núi) vì nơi thanh vắng không có tiếng ồn dễ nâng tâm hồn lên Thiên Chúa.
– Ðức Giêsu cầu nguyện trước khi chọn 12 tông đồ, và cầu nguyện đến suốt đêm chứng tỏ việc này rất quan trọng.
– “Tông đồ”: là một cấp cao hơn môn đệ. Ðức Giêsu có nhiều môn đệ. Môn đệ là những người tin theo Ðức Giêsu nhưng không ở sát bên Ngài luôn. Còn tông đồ là những người được tuyển lựa trong số các môn đệ (“Ngài gọi các môn đệ lại chọn lấy 12 ông gọi là tông đồ”), để họ “sống với Ngài và để Ngài sai đi rao giảng” (Mc 3,14). Theo nguyên ngữ, Tông đồ là Apostolos nghĩa là người được sai đi.
@ cc 12-13: Ðức Giêsu thường cầu nguyện, nhất là trước những việc quan trọng. Ngài cầu nguyện trước khi chọn 12 tông đồ chứng tỏ việc này rất quan trọng. Tông đồ là những người được chọn từ các môn đệ, để sống với Ðức Giêsu và được Ngài sai đi loan báo Tin Mừng.
Ð cc 14-16
– Ðức Giêsu đã chọn 12 tông đồ. 12 là con số 12 tổ phụ làm thành 12 chi tộc của dân Israel. Ý Ðức Giêsu cũng muốn các tông đồ sẽ là tổ phụ của dân Israel mới là Giáo hội Ngài lập. Con số 12 này rất quan trọng, bởi vì sau này khi Giuđa đã “bỏ chỗ của mình” (Cv 2,25) tức là đào ngũ, thì các tông đồ còn lại đã bầu Matthia thế vào chỗ đó cho đủ số 12. (Về sau nữa, Phaolô cũng được gọi là Tông đồ. Và khi Giáo Hội phát triển, các Giám mục cũng là tông đồ. Nhưng các vị này không được kể vào số 12 bởi vì với Matthia thế chỗ Giuda, số 12 đó đã đủ, đã trọn vẹn, tượng trưng cho dân Israel mới)
@ Ðức Giêsu chọn các tông đồ đủ số 12 vì có ý coi các ông là 12 tổ phụ của dân Israel mới là Giáo Hội.
Danh sách 12 tông đồ:
01. Simon: sau được Ðức Giêsu đi tên là Phêrô (tiếng Hylạp là Kêpha) nghĩa là Ðá, vì Ðức Giêsu đặt ông làm trưởng nhóm 12 và là Ðá tảng xây dựng Giáo Hội.
02. Anrê: Anh của Simon Phêrô
03. Gioan: người được Ðức Giêsu thương yếu nhất.
04. Giacôbê: anh của Gioan. Vì trong nhóm có hai người tên này cho nên ngài được gọi là Giacôbê Tiền để phân biệt,
05. Matthêô: còn có tên khác là Lêvi, trước làm nghề thu thuế. Người có công soạn quyển Tin mừng thứ nhất.
06. Tôma: người mang tiếng là cứng lòng tin vì đòi được sờ các vết thương của Ðức Giêsu rồi mới tin Ngài sống lại.
07. Simon nhiệt thành: gọi như vậy có lẽ vì tính tình của ngài rất nhiệt thành, hoặc vì trước khi theo Ðức Giêsu ngài theo một đảng chính trị thời đó là đảng “nhiệt thành” (zélotes).
08. Giuđa Tađêô: ngài có tên đôi. Ngày nay để khỏi lẫn lộn với Giuđa Israriốt là kẻ phản Ðức Giêsu, người ta gọi ngài là Tađêô thôi.
09. Giuđa Iscariốt: chữ Is nghĩa là “con”; chữ Iscariô là tên của một thành. Giuđa Iscariốt là người xuất thân từ thành Iscariô. Ðây là kẻ bán Ðức Giêsu.
10. Batôlômêô: còn có tên là Natanael.
11. Philipphê: người gốc Hylạp, quen biết nhiều với người Hylạp
12. Giacôbê Hậu.
Xét thành phần thì trong số các tông đồ, có người ít học và người có học (Matthêu), có người tội lỗi (Matthêu và Giuđa Iacariốt), có người Dothái có người gốc Hylạp. Tính khí thì rất khác nhau. Ðiều này chứng tỏ là Ðức Giêsu không phân biệt ai cả, cũng không chọn vì tài đức của người đó, mà chỉ vì tình thương của Ngài và do ý muốn tự do của Ngài.
@ 12 tông đồ là hai anh em Phêrô và Anrê, hai anh em Gioan và Giacôbê, Giuđa Tađêô và Giuđa Iscariô, Matthêu, Simon, Philipphê, Batôlômêô, Tôma và Giacôbê Hậu. Các ngài thuộc nhiều thành phần khác nhau và tính khí khác nhau.
1. Hãy noi gương Ðức Giêsu: thường xuyên cầu nguyện, nhất là trước những việc quan trọng. Khi cầu nguyện nên ưu tiên chọn bầu khí thinh lặng.
2. Ðức Giêsu chọn các tông đồ không phải từ những người trí thức hoặc đạo đức. Ơn gọi không phải là do tài đức của con người.
3. Ðức Giêsu không chọn một tập thể đồng nhất vì Ngài chấp nhận Giáo Hội có những dị biệt.
4. Người tông đồ phải “sống với Chúa” và sẵn sàng để Ngài sai đi.
Ðức Giêsu là một nhà sư phạm giỏi: Tuy Ngài dạy những chân lý cao siêu, nhưng người nghe rất dễ hiểu vì Ngài thường lấy những thí dụ từ cuộc sống hằng ngày. Những thí dụ ấy được gọi là Dụ Ngôn hoặc Ẩn dụ.
a) Dụ ngôn là một hình ảnh hoặc một chuyện nhỏ được dùng để giúp dễ hiểu một bài học. Toàn thể hình ảnh hoặc chuyện nhỏ đó soi sáng cho bài học.
Thí dụ: Mt 13,31-32 13,33 13,44-46 13,47-50.
b) Ẩn dụ cũng là một câu chuyện được dùng để giúp dễ hiểu một bài học. Nhưng từng chi tiết của câu chuyện đều có giá trị soi sáng cho ý nghĩa của từng khía cạnh trong bài học.
Thí dụ: Ga 10,1-5 Mt 13,1-9.18-23 13,24-30.36-43.
Khi gặp một dụ ngôn, ta chỉ cần để ý chung đến ý nghĩa của thí dụ Ðức Giêsu dùng. Còn khi gặp một ẩn dụ, ta phải để ý đến ý nghĩa của từng chi tiết trong thí dụ.
Ðoạn tin mừng này là một ẩn dụ.
Ð c 1
Ðây chỉ mới là nhập đề chứ chưa đi vào ẩn dụ.
– “Bờ hồ”: So sánh với c 10 (“Ðức Giêsu ở riêng một mình”), ta thấy ẩn dụ dưới đây gồm hai phần: một phần Ðức Giêsu nói cho dân chúng nghe “ở bờ hồ”, và một phần giải thích riêng cho các môn đệ và nhóm 12 khi “ở riêng một mình”.
– “Ngồi”: Không phải vì Ðức Giêsu mỏi chân không đứng được. Ngồi là tư thế của các Rabbi Dothái khi dạy học. Thánh Marcô cẩn thận ghi lại tư thế này nhằm cho ta thấy tầm quan trọng của bài học mà Ðức Giêsu sắp dạy.
Ð cc 2-8
Thí dụ mà Ðức Giêsu dùng ở đây rút ra từ một việc làm quen thuộc là làm ruộng. Ở nước Dothái thời Ðức Giêsu, cách làm ruộng cũng không khác chúng ta ngày nay bao nhiêu: trước hết là dọn đất cho tương đối bằng phẳng; kế đến là làm đường tức là trên miếng đất đã dọn ấy người ta vạch một con đường nhỏ nện đất cho cứng để đi lại trên đó; sau cùng là gieo giống. Nhưng có khác một điều quan trọng là: vì xứ Palestina nhiều đồi núi, đất canh tác không nhiều, vì thế nông dân phải tận dụng bất cứ chỗ đất nào có hy vọng trồng trọt được. Bởi vậy trong dụ ngôn này ta thấy người nông dân đã gieo giống cả những nơi sỏi đá, gai góc và vệ đường.
@ cc 1-8: Ở xứ Palestina thời Ðức Giêsu, nông dân dọn đất, làm đường rồi gieo giống. Vì đất canh tác ít nên phải tận dụng tất cả những chỗ nào có hy vọng hạt giống mọc lên được.
Ð cc 13-20
Vì đây là một ẩn dụ nên ta phải tìm hiểu ý nghĩa của từng chi tiết. Rất may là chính Ðức Giêsu đã giải nghĩa sẵn cho chúng ta ở cc 14-20:
– Người gieo giống: Ðức Giêsu và những người loan TM
– Hạt giống: Lời Chúa. Chi tiết gieo hạt trên những chỗ khó mọc lên ngoài lý do vì ít đất canh tác, còn có ý nghĩa là Lời Chúa được ban phát rộng rãi đến độ như hoang phí.
– Vệ đường cứng: những người không có thiện chí lắng nghe
– Ðất lẫn sỏi đá: người nghe nhưng không kiên trì thực hiện
– Ðất lẫn gai góc: người bận tâm nhiều chuyện thế tục
– Ðất tốt: người tin lời Chúa và thi hành.
– Bông hạt: những kết quả tốt.
Đcc 13-20: Ý nghĩa các chi tiết của ngụ ngôn:
– Người gieo giống: Ðức Giêsu và những người loan TM... (chép tiếp như trên)
Ta hãy chú ý Ðức Giêsuࠬ?#7847;n dùng động từ “nghe” (c3: “Các ngươi hãy lắng nghe”; c 9 “Ai có tai nghe được thì nghe”). Nghĩa là phải chú ý nghe cho kỹ, không những thế, còn phải thi hành nữa.
Riêng c 8 (và c 20) nói về kết quả của hạt giống gieo vào đất tốt: sinh ra 30, 60, 100. So sánh với Mt 13,8: kết quả 100, 60, 30. Tuy bài học là như nhau, nhưng hai tác giả nhấn mạnh đến hai khía cạnh, không mâu thuẫn nhưng bổ túc cho nhau. Bài học là: việc loan Tin Mừng có thất bại nhưng chắc chắn cũng có thành công:
– Thánh Matthêu nhấn mạnh đến sự thất bại nên ghi những con số cứ đi xuống dần.
– Thánh Marcô nhấn mạnh tới sự thành công nên ghi những con số tăng dần lên.
Bài học này Ðức Giêsu gởi đến trước hết là các tông đồ mà Ngài vừa tuyển chọn từ các môn đệ: Các ngài sẽ chia sẻ sứ mạng loan Tin Mừng với Ðức Giêsu. Có lẽ họ đang băn khoăn không biết mình sẽ làm được gì. Và sau này thế nào họ cũng gặp khó khăn và thất bại, khi đó có lẽ họ sẽ thất vọng ngã lòng. Nhưng bài học này cũng gởi đến tất cả những ai lãnh sứ mạng loan Tin Mừng.
@ Ẩn dụ này dạy các tông đồ và tất cả những ai lãnh nhận sứ mạng loan Tin Mừng rằng: họ sẽ gặp khó khăn và thất bại, nhưng hãy kiên trì và lạc quan vì thế nào lời Chúa cũng sinh kết quả.
1. Người có sứ mạng loan tin mừng hãy kiên trì và lạc quan.
2. Người nghe Tin Mừng hãy chú ý lắng nghe lời Chúa và cố gắng thi hành thì mới có kết quả.
Ð cc 5-8
Trước khi dạy về nội dung lới cầu nguyện, Ðức Giêsu dạy về cách thức:
– cc 5-6: Luật quy định mỗi ngày phải cầu nguyện trước bữa ăn và vào những giờ nhất định như giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín. Tới giờ đó dù đang làm gì cũng phải bỏ để cầu nguyện. Tư thế cầu nguyện có thể là đứng, quì hay phủ phục xuống đất. Nhưng tư thế thông thường là đứng và đưa hai tay lên trời. Nhiều người giả hình đã tính toán đi ra đường khi gần tới những giờ đó, để khi tới giờ thì họ đứng cầu nguyện giữa đường cho người khác nhìn thấy mà khen họ đạo đức. Ðức Giêsu dạy môn đệ mình đừng cầu nguyện vì để được khen nhưng hãy cầu nguyện vì yêu mến “Cha trên trời”. “Hãy vào phòng đóng cửa lại” là một kiểu nói thí dụ và có phần cường điệu, ý nói hãy cầu nguyện đừng vì phô trương. Dĩ nhiên ta vẫn có thể cầu nguyện trước mặt mọi người và ở mọi nơi, nhưng đừng vì mục đích phô trương. Hơn nữa nơi kín đáo và thanh vắng dù sao cũng thuận tiện hơn.
– cc 7-8: Khi cầu nguyện cũng không cần nói nhiều. Lý do là Thiên Chúa đã biết ta cần gì. Ðừng coi Thiên Chúa cũng như con người, ta cần phải nói thì Ngài mới biết.
@ cc 5-7: Khi cầu nguyện, đừng có ý phô trương cũng đừng nên nói nhiều, mà chỉ vì lóng yêu mến Thiên Chúa.
Ð cc 9-13
Ðây chính là Kinh Lạy Cha mà chúng ta vẫn thường đọc. Kinh này do chính Ðức Giêsu soạn, nên là lời kinh tuyệt hảo. Ðây cũng là Kinh nguyện có ghi trong Tân Ước nên đều được các giáo phái kitô công nhận, do đó có thể dùng khi những kitô hữu thuộc nhiều giáo phái cầu nguyện chung nhau.
Kinh này gồm 7 lời cầu chia thành hai nhóm: 3 lời đầu xin những điều cho Chúa, 4 lời sau xin những điều cho ta.
– “Lạy Cha chúng con ở trên trời”: “ở trên trời” không nói tới chỗ ở của Thiên Chúa vì Ngài ở khắp mọi nơi, mà nói tới sự cao cả của Ngài.
1. Chúng con nguyện danh Cha cả sáng: “Cả sáng” là được mọi người biết. “Danh” không phải chỉ là một tên để gọi mà là chính người mang tên đó. Vậy “nguyện danh Cha cả sáng” nghĩa là xin cho mọi người biết Chúa.
2. Nước Cha trị đến: “Nước” không phải là lãnh thổ đất đai mà là quyền cai trị. Xin cho nước Chúa trị đến tức là xin cho mọi người nhìn nhận quyền của Chúa trên đời mình.
3. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời: Trên trời, các thiên sứ và các thánh đều mau mắn làm theo thánh ý Chúa. Ta xin cho mọi người dưới đất cũng làm theo ý Chúa như vậy.
4. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày: Lương thực không phải chỉ là thức ăn thức uống mà là tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống. Chữ “hằng ngày” dạy chúng ta đừng có óc tham lam đầu cơ tích trữ nhưng biết phó thác vào Chúa quan phòng. Tóm lại ta xin cho mỗi ngày ta có những thứ cần thiết cho cuộc sống.
5. Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con: Về lời cầu này ta nên chú ý hai điểm: a) Ðức Giêsu liên kết việc Chúa tha cho ta với việc ta tha cho người khác. Không thể có được điều thứ nhất nếu không có điều thứ hai. b) Trong nguyên bản, động từ tha thứ hai ở thì quá khứ (“như chúng con cũng đã tha”): nghĩa là chúng ta phải tha cho người ta trước rồi mới đáng xin Chúa tha cho chúng ta.
6. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ: Thiên Chúa không cám dỗ ai cả nhưng Ngài cho phép con người bị cám dỗ. Như vậy bị cám dỗ không phải là có tội. Miễn là ta đừng ưng theo cám dỗ đó. Trong lời cầu này, ta không xin Chúa cho mình đừng bị cám dỗ, nhưng xin cho mình đừng sa ngã khi bị cám dỗ.
7. Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ: Nguyên bản Hylạp không phải là “sự dữ” mà là “Thần dữ” tức là Satan. Satan luôn tìm cách làm hại chúng ta, nhất là làm cho chúng ta xa Chúa. Trong lời nguyện này, ta xin Chúa giúp ta đừng rơi vào tròng khống chế của Satan.
@ Kinh Lạy Cha gồm 7 lời nguyện:
1. Nguyện danh Cha cả sáng nghĩa là xin cho mọi người biết Chúa.
2. Nước Cha trị đến nghĩa là xin cho mọi người nhìn nhận quyền của Chúa trên đời mình.
3. Ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời nghĩa là xin cho mọi người dưới đất làm theo ý Chúa cũng mau mắn như các thiên sứ và các thánh trên trời.
4. Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày nghĩa là xin Chúa cho ta mỗi ngày có những sự cần thiết để sống.
5. Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con nghĩa là xin Chúa tha cho ta, đồng thời ta phải tha cho người khác.
6. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ nghĩa là xin cho ta đừng sa ngã khi bị cám dỗ.
7. Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ nghĩa là xin Chúa giúp ta đừng rơi vào tròng của Satan.
Ð cc 14-15
– Lời cầu nguyện thứ 5 rất quan trọng ở chỗ Ðức Giêsu liên kết việc Thiên Chúa tha cho ta với việc ta tha cho người khác. Quan trọng đến nỗi sau khi dạy xong kinh Lạy Cha, Ðức Giêsu phải nhắc lại một lần nữa việc ta phải tha cho người khác.
1. Xin cho con nhận biết ý Chúa để con làm theo.
2. Xin giúp con tha thứ cho người khác.
Ð cc 21-22
– “Thành Caphanaum”: thành này ở gần hồ Ghênêzarét. Ðức Giêsu thường đến đây để giảng dạy và làm phép lạ.
– “Hội đường”: Cả nước Dothái chỉ có một Ðền thờ duy nhất ở Giêrusalem. Còn ở mỗi địa phương, có Hội đường. Ðây là nơi tập họp của người Dothái vào ngày Sabbat hàng tuần. Buổi họp gồm có hai phần chính: a) Ðọc và giải thích một đoạn sách thánh. Việc này ai cũng có quyền, miễn là người có uy tín; b) Cầu nguyện. Ðức Giêsu là người có uy tín vì đã giảng dạy và làm phép lạ ở những nơi khác, nên hôm nay Ngài được mời đọc và giảng sách thánh.
– Cách Ngài giảng dạy khiến người ta ngạc nhiên, vì Ngài giảng như Ðấng có uy quyền “chứ không như hàng thông giáo”. Những thầy thông giáo là những người chuyên môn giảng dạy, nhưng họ phải luôn dựa vào uy tín của những bậc tiền bối cao thâm. Còn Ðức Giêsu không cần việc dẫn uy tín của ai cả, Ngài dạy giáo lý Tin mừng của chính Ngài.
@ cc 21-22: Ðức Giêsu giảng dạy có uy quyền vì Ngài không cần dựa vào uy tín của những bậc tiền bối, nhưng dạy giáo lý Tin Mừng của chính Ngài.
Ð cc 23-28
Sau khi giảng dạy một cách uy quyền, Ðức Giêsu còn làm một việc khiến uy tín Ngài tăng thêm, đó là trừ tà cho một người bị tà thần ám. Thánh Marcô tường thuật chuyện này theo khung khổ của văn thể trừ tà, gồm 3 phần:
a) hai bên cố vạch tên nhau ra, vì theo quan niệm người Dothái, biết tên ai là có thể khống chế người đó. Tà thần tấn công trước bằng cách vạch tên Ðức Giêsu và còn nói cả lý lịch của Ngài nữa: “Hỡi ông Giêsu người Nadarét”. Tuy nhiên liền sau đó nó phải thú nhận thế mạnh của Ngài và thế yếu của nó: “Tôi biết ông là ai rồi, ông là Ðấng Thánh của Thiên Chúa”. Kiểu nói ”Ðấng thánh của Thiên Chúa ” tương đương với tước hiệu Messia. Phần Ðức Giêsu thì không cần vạch tên nó ra.
b) Nếu người trừ tà mạnh thế hơn thì sẽ trục xuất được tà thần. Ðức Giêsu rất mạnh, Ngài không cần vạch tên tà thần, cũng không đọc bùa chú, mà chỉ một lệnh ngắn gọn “Im đi và hãy ra khỏi người này”.Tại sao tà thần vừa tiết lộ Ngài là Messia thì Ðức Giêsu bảo nó im ngay? Vì người Dothái hiểu Messia là kẻ mang lại sự giải phóng có tính cách trần thế và chính trị, nên Ðức Giêsu không muốn người ta hiểu lầm Ngài như vậy, do đó Ngài buộc tà thần im.
c) Nhưng trước khi tà thần xuất ra thì nó hành hạ nạn nhân. Nạn nhân trong chuyện này bị vật và thét lên một tiếng.
Bài tường thuật này viết theo khung định sẵn của văn thể trừ tà, nên xét chung chẳng có gì đặc biệt. Cái đặc biệt là Ðức Giêsu trừ tà một cách rất dễ dàng, gọn nhẹ và nhanh chóng. Cũng khác hơn những tay phù thủy Dothái. Bởi đó người ta càng ngạc nhiên. Họ nhận ra Ðức Giêsu không phải là người thường.
@ cc 23-28: Việc Ðức Giêsu trừ tà một cách dễ dàng khiến người ta càng nễ phục Ngài. Họ biết Ngài không phải là người thường.
1. Thiên Chúa luôn mạnh thế hơn mọi thế lực gian tà. Thế nhưng trên thực tế nhiều khi chúng ta chưa tin như vậy, nên chúng ta dựa vào những thần khác như tiền tài, danh vọng v.v.
2. Xin Chúa cũng cứu chúng ta khỏi những tật xấu đang ngự trị trong con người chúng ta.
Ð cc 1-2
– Chuyện này cũng xảy ra tại Capharnaum là nơi mà chúng ta đã biết Ðức Giêsu tới lui hoạt động rất thường xuyên.
– Vì Ðức Giêsu đã làm một số phép lạ ở đó, nhất là phép lạ cứu một người bị tà thần ám (bài trước), nên dân chúng theo Ngài rất đông. Dù Ðức Giêsu đã về nhà (Thánh Marcô không nói rõ nhà của ai, nhưng dựa vào câu 1,29 ta có thể đoán là nhà của Simon) nhưng người ta cũng kéo đến đầy nhà và tràn ra cả trước nhà, không còn chỗ trống. Thấy vậy Ðức Giêsu lại lên tiếng giảng dạy họ.
@ cc 1-2: Chuyện này xảy ra tại Capharnaum, tại nhà của Simon, vào giai đoạn Ðức Giêsu đang được dân chúng ngưỡng mộ đi theo rất đông.
Ð cc 3-4
– Khi ấy xuất hiện một người bị bất toại. Anh không đi được nên được 4 người khiêng trên một chiếc chõng. Nhưng người ta đông quá không thể nào khiêng anh vào nhà được. Như thế anh là một người bị “khai trừ” về cả hai mặt: mặt thể xác là anh không đến gần Ðức Giêsu được vì bị bất toại; mặt xã hội là người ta cũng cản trở không cho chiếc chõng của anh đến gần Ngài.
– Nhưng những người khiêng anh không chịu bó tay. Họ nghĩ cách dở mái nhà để thòng người bệnh xuống ngay trước mặt Ðức Giêsu. Nhà người Dothái nóc bằng, làm bằng cây tạp trộn với cỏ và đất sét nên rất dễ dở. Tuy nhiên việc làm này có thể gây khó chịu cho nhiều người: a) Trước hết là cho chủ nhà vì làm hư nhà của chủ; b) kế đến là cho đám đông đang ở trong nhà vì bụi bậm rơi xuống đầu họ; c) và nhất là cho Ðức Giêsu vì không xin phép Ngài. Dù vậy thân nhân của người bất toại vẫn làm. Ðiều này chứng tỏ họ rất tin vào Ðức Giêsu, bất chấp mọi trở ngại. Chính Ðức Giêsu cũng đánh giá đó là một hành động đức tin (c 5 “Ðức Giêsu thấy lòng tin của họ”)
@ cc 3-4: Việc dở mái nhà để thòng người bất toại xuống chứng tỏ một niềm tin rất mạnh vào Ðức Giêsu, bất chấp mọi trở ngại.
Ð c 5
Câu nói của Ðức Giêsu có mấy điểm đặc biệt:
a) Ngài không chữa bệnh cho anh, nhưng lại tha tội cho anh. Có hai lý do giải thích điểm đặc biệt này: một là người Dothái tin rằng bệnh tật là hình phạt của tội, nói cách khác, tội là gốc còn bệnh chỉ là ngọn. Tha tội là trị tận gốc; hai là về phía Ðức Giêsu, tuy không hẳn đồng tình với quan niệm ấy nhưng cũng coi tội lỗi là điều nguy hại hơn cả bệnh tật phần xác nên Ngài tha tội trước.
b) Về mặt văn phạm, động từ “đã được tha” ở thể thụ động và ở thì quá khứ. Thể thụ động ngầm nói kẻ chủ động tha tội là Thiên Chúa. Vậy Ðức Giêsu tha tội cũng có nghĩa Ngài là Thiên Chúa. Thì quá khứ cho thấy anh này đã được tha tội trước khi anh lẽ ra phải chu toàn những nghi lễ đền tội như luật buộc (x Lv 6,17-23). Chính vì Ðức Giêsu là Thiên Chúa nên Ngài có quyền tha tội trực tiếp không thông qua hình thức bề ngoài. Và chính đức tin của người bất toại và thân nhân của anh đã khiến Ðức Giêsu tha tội trực tiếp cho anh. Ðức tin là căn bản của mọi sự, là điều quan trọng nhất.
@ c 5: Ðức Giêsu dùng quyền Thiên Chúa mà tha tội trực tiếp cho người bất toại, không đòi anh phải chu toàn những quy định của Luật. Ngài tha tội trước khi chữa bệnh vì tội lỗi còn nguy hại hơn cả bệnh tật nữa.
Ð cc 6-12
– Những thầy thông giáo có mặt ở đó liền khó chịu. Tại vì theo giáo lý, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi. Họ không tin Ðức Giêsu là Thiên Chúa nên họ khó chịu. Họ cho rằng Ngài đã phạm thượng.
– Thực ra xét theo bề ngoài, nói một câu tha tội mà hiệu quả không ai kiểm chứng được là một điều dễ dàng hơn chữa bệnh mà người ta kiểm chứng được. Do đó, để người ta tin hơn, Ðức Giêsu bảo người bất toại đứng dậy vác chõng về nhà. Anh khỏi bệnh ngay và vác chõng về nhà.
– Cũng nên chú ý Ðức Giêsu tự xưng là “Con Người”: Trong ngôn ngữ Dothái, kiểu nói “Con Người” (dịch sát chữ là “con của người”) chỉ có nghĩa là “người ta”. Nhưng từ khi kiểu nói này được dùng trong sách ngôn sứ Ðanien thì nó này đồng nghĩa với tước hiệu Messia. Ðức Giêsu thích tự xưng là Con Người hơn là Messia, vì tước hiệu Messia dễ khiến người ta hiểu lầm Ngài là vị cứu tinh có tính cách thế tục và chính trị mà thôi.
– hai việc này (tha tội và chữa bệnh) khiến những người chứng kiến kinh ngạc và tôn vinh Thiên Chúa. Ðây cũng là một chi tiết đặc biệt: Ðức Giêsu làm, thế mà họ tôn vinh Thiên Chúa. Chứng tỏ họ phần nào tin rằng Ðức Giêsu chính là Thiên Chúa. Về phần người bất toại, anh đã được Ðức Giêsu giải thoát khỏi tình trạng bị khai trừ.
@ cc 6-12: Việc Ðức Giêsu tha tội chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa vì chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi.
1. Tội lỗi nguy hại hơn cả bệnh tật phần xác.
2. Ðức tin là nguồn gốc của mọi ơn phần xác và phần hồn.
Ð cc 1-5
– Năm 63 trước công nguyên, xứ Palestina rơi vào ách đô hộ của đế quốc Lamã. Do đó có sự hiện diện của quân đội Lamã. Vị sĩ quan trong chuyện này chỉ huy khoảng 100 người, cho nên được gọi là “Sĩ quan bách quản”, tương đương với Ðại đội trưởng ngày nay.
– Dĩ nhiên ông là người ngoại, và thuộc giai cấp thống trị. Tuy nhiên ông không khinh miệt những người dân bị trị, trái lại còn có cảm tình với họ và đã bỏ tiền ra để xây cất hội đường cho họ.
– Ông cũng có lòng thương các gia nhân. Khi một đầy tớ của ông bệnh nặng, ông nghĩ tới việc xin Ðức Giêsu cứu chữa, vì có lẽ trước đó ông đã nghe những tiếng đồn tốt về Ngài. Tuy nhiên, vì là người ngoại nên ông thấy mình không xứng đáng nói chuyện với Ðức Giêsu. Ông nhờ một nhóm kỳ hào Dothái tới xin Ngài.
– Các kỳ hào Dothái “thành khẩn thưa Ngài”. Tại sao họ thành khẩn? Vì họ nghĩ rằng ơn Chúa chỉ ban cho người Dothái mà thôi. Họ xin Ðức Giêsu một ngoại lệ vì viên đại đội trưởng có công với người Dothái.
@ cc 1-5: Viên sĩ quan Lamã tuy thuộc giai cấp thống trị và là người ngoại nhưng có cảm tình với dân Dothái và đã giúp xây cất hội đường cho họ. Ông cũng tin Ðức Giêsu và yêu mến thuộc hạ. Khi một người đầy tớ của ông bệnh nặng, ông muốn xin Ðức Giêsu cứu giúp. Nhưng vì thấy mình là người ngoại bất xứng nên ông nhờ các kỳ hào Dothái đến nói giúp với Ðức Giêsu.
Ð cc 6-8
– Ðức Giêsu đồng ý đến nhà viện đại đội trưởng ngay. Nhưng ngài còn ở đàng xa thì viên đại đội trưởng đã nhờ người tới thưa với Ðức Giêsu đừng đến vì ông không xứng đáng được Ngài đến nhà. Tại sao không xứng đáng? Phải chăng vì ông là người ngoại? Có lẽ (người Dothái cho rằng đi vào nhà một người ngoại thì sẽ bị ô uế). Nhưng còn vì một lý do khác nữa: vì ông nghĩ Ðức Giêsu có một cái gì đó thần thánh trong khi ông chỉ là người phàm. Cũng giống như Môsê, Isaia ngày xưa và Phêrô mới đây cảm thấy bất xứng trước mặt Thiên Chúa và Ðức Giêsu. Chi tiết này chứng tỏ đức tin của viên sĩ quan mạnh đến nỗi Ðức Giêsu phải khen.
– “Chỉ xin Chúa phán một lời”: Các kỳ hào Dothái nghĩ rằng sự hiện diện của Ðức Giêsu sẽ cứu được bệnh cho người đầy tớ. Còn viên sĩ quan tin rằng không cần sự hiện diện ấy, chỉ cần một lời Ðức Giêsu thôi cũng đủ cứu. Ông có ý nghĩ đó do kinh nghiệm nghề nghiệp của ông: Là chỉ huy, ông chỉ cần ra lệnh là thuộc hạ sẽ làm theo, lời nói phát sinh hiệu quả. Thêm một dấu chỉ nữa về đức tin mạnh mẽ của ông.
– c 8: “Người cấp dưới”: trong tiếng Aram, chữ này cũng đồng nghĩa với “người đại diện”. Vậy lập luận của ông là: Vì cũng như tôi là người đại diện của nhà vua nên có quyền... thì Ngài là đại diện của Thiên Chúa nên càng có quyền hơn.... Ý tưởng này mới chứng tỏ đức tin mạnh mẽ của ông vì cho thấy ông tin Ðức Giêsu là đại diện của Thiên Chúa.
@ cc 6-8: Những chi tiết chứng tỏ đức tin mạnh mẽ của viên sĩ quan: ông tin rằng Ðức Giêsu là người đại diện của Thiên Chúa, và tin rằng Ngài không cần đến nhà ông mà chỉ cần ở xa phán một lời thì đầy tớ ông cũng khỏi bệnh.
Ð cc 9-10
– Lời khen ngợi của Ðức Giêsu: Ðức tin của viên sĩ quan mạnh hơn đức tin của bất cứ người Dothái nào, bởi vì dân Dothái dù đã được chuẩn bị từ lâu bởi Luật và các ngôn sứ để đón Ðấng Messia. Nhưng khi Ðấng Messia đến thì họ không nhận ra. Còn viên sĩ quan này dù không được chuẩn bị nhưng đã tin ngay Ngài là Ðấng đại diện của Thiên Chúa.
– Ðể đáp ứng một đức tin mạnh mẽ như thế, Ðức Giêsu đã làm một phép lạ rất đặc biệt và hiếm thấy trong Tân Ước: đó là một phép lạ “từ xa”.
@ cc 9-10: Ðức tin của viên sĩ quan mạnh hơn đức tin của người Dothái vì tuy ông không được chuẩn bị bởi Cựu Ước nhưng đã nhận ra ngay Ðức Giêsu là đại diện của Thiên Chúa. Ðể đáp ứng với đức tin mạnh mẽ như vậy, Ðức Giêsu đã làm một phép lạ đặc biệt từ xa.
1. Nhiều khi đức tin của kitô hữu không mạnh bằng người ngoại.
2. Thiên Chúa không chỉ ban ơn cho kitô hữu mà còn cho người ngoại nữa.
Qua những bài trước, chúng ta đã thấy Ðức Giêsu làm những phép lạ ngày càng đặc biệt: ban đầu chữa một người bị tà thần ám, tiếp đó vừa tha tội vừa chữa bệnh cho một người bất toại, tiếp đến chữa bệnh “từ xa” cho đầy tớ của một viện sĩ quan Lamã. Bài này cho thấy hai phép lạ càng đặc biệt hơn nữa: chứa bệnh cho một người chỉ mới sờ đến gấu áo Ngài và làm cho một người chết sống lại.
Ð cc 21-24
– “chủ hội đường”: là người quản lý hội đường, có trách nhiệm bảo quản hội đường và điều khiển các buổi họp ở hội đường. Cũng thuộc thành phần “lãnh đạo” tôn giáo.
– “xin Ngài đến đặt tay trên cháu”: cử chỉ đặt tay có nghĩa là xin một sức thiêng từ trên đổ xuống trên người được đặt tay.
– Nhiều người thuộc cấp lãnh đạo Dothái không tin Ðức Giêsu. Nhưng ông Giairô tin rằng chỉ do đặt tay thôi thì Ðức Giêsu cũng có thể chữa cho con gái ông đang hấp hối. Ðức Giêsu thấy ông có đức in mạnh nên bằng lòng theo ông về nhà ngay.
@ cc 21-24: Ông Giairô xin Ðức Giêsu đến nhà ông đặt tay trên con gái ông đang hấp hối vì ông tin rằng việc đặt tay ấy sẽ ban sức thiêng từ trên cao khiến con gái ông bình phục.
Ð cc 25-34
Ðang khi Ðức Giêsu đi thì nhiều người hiếu kỳ đi theo để hy vọng thấy được một phép lạ nữa. Và cũng đang lúc đó có một phụ nữ loạn huyết tiến đến sờ vào gấu áo Ngài.
– Nên chú ý là bệnh này được kể vào những trường hợp làm cho người ta ra ô uế (Lv 15,19-27). Mà người ô uế đụng đến ai thì người bị đụng cũng thành ô uế.
– Người phụ nữ này tin rằng chỉ cần đụng tới Ðức Giêsu thì sẽ hết bệnh. Tuy nhiên bà biết mình ô uế nên không dám đụng vào người Ðức Giêsu, chỉ dám đụng vào áo của Ngài thôi. Nhưng bà tin rằng hiệu quả cũng như nhau vì áo cũng là người, đụng áo tức là đụng người. Cái đụng này khác với cái đụng của đám đông đang đi quanh Ðức Giêsu vì nó phát xuất bởi đức tin.
– Vừa đụng xong Bà này liền hết bệnh. Lúc đó Ðức Giêsu cũng biết có một sức mạnh từ Ngài phát ra nên hỏi. Bà này nghe thế thì run sợ. Bà sợ gì? Sợ Ðức Giêsu rầy vì Bà đã làm điều mà Luật cấm (người ô uế không được đụng tới người khác). Nhưng Ðức Giêsu không rầy mà còn an ủi Bà: “Ðức tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an”.
@ cc 25-34: Người phụ nữ loạn huyết tin rằng Ðức Giêsu rất quyền phép đến nỗi chỉ cần bà đụng tới gấu áo của Ngài thì cũng sẽ khỏi bệnh, do đó mặc dù luật cấm người ô uế như bà đụng tới người khác, Bà cũng can đảm đụng vào gấu áo Ðức Giêsu.
Ð cc 35-42
– Ðức Giêsu đã bị một người ô uế đụng vào, nên Ngài đã bị lây ô uế. Ðiều này có lẽ cũng khiến ông Giairô đâm ra ngại, vì nếu Ðức Giêsu vào nhà ông thì nhà ông cũng bị lây ô uế. Hơn nữa, là chủ hội đường, ông có thể bị dư luận chỉ trích nặng về việc này, thậm chí còn có thể mất chức nữa.
– Ðang lúc đó lại thêm một chuyện khiến ông càng ngại thêm: người nhà đến cho hay con gái ông đã chết. Trước đây dù tin Ðức Giêsu, ông cũng nghĩ rằng Ngài cứu được con gái ông khỏi bệnh chứ không thể cứu được khi nó đã chết. Nay nó chết rồi thì mời Ðức Giêsu đến nhà làm chi cho phiền Ngài.
– Ðức Giêsu đoán biết tâm trạng ông nên vừa trấn an ông “Ðừng sợ” vừa khuyến khích ông “Hãy vững tin”. “Ðừng sợ” nghĩa là đừng sợ nhà ông sẽ bị lây ô uế và đừng sợ làm phiền Ngài. “Hãy vững tin” nghĩa là dù tình thế đã biến chuyển bi đát hơn (do việc Ðức Giêsu bị người ô uế đụng vào và do con gái ông đã chết) ông cũng đừng ngã lòng. Vả lại, trong tình huống như thế mà ông vẫn tin thì đức tin của ông mới có giá trị và mới xứng đáng được thưởng. Lời Ðức Giêsu làm ông Giairô yên tâm.
– Chi tiết “nhiều người khóc lóc kêu la” chứng tỏ đứa bé đã chết thật.
– Lời Ðức Giêsu nói “Em bé không chết, nó chỉ ngủ đó thôi” không phải là một lời trấn an mà là lới nói thật của Ðức Giêsu, vì theo Ngài, chết không phải là hết mà chỉ như một giấc ngủ mà thôi. Nhưng người ta không hiểu như Ngài nên chế diễu Ngài.
– Ðức Giêsu không cho ai vào phòng, ngoại trừ cha mẹ đứa bé và 3 môn đệ mà Ngài thường đem riêng theo trong những biến cố quan trọng là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Lý do: a) vì những người kia không tin (họ vừa chế diễu Ngài); b) để bảo vệ “bí mật Messia”. Việc đem theo 3 môn đệ này cho thấy phép lạ này được Ðức Giêsu coi là quan trọng (cũng bằng việc Ngài biến hình và việc Ngài hấp hối trong vườn cây dầu).
– “Ngài cầm tay em bé”: nó đã chết, nên đụng tới nó thì sẽ bị ô uế.
– “Talitha Qoum nghĩa là này em bé Ta bảo con chỗi dậy”: Thánh Marcô viết Tin Mừng cho các độc giả Hylạp nên khi gặp một chữ Aram, ngài thường dịch ra cho độc giả hiểu. Trong trường hợp này, ngài ghi lại nguyên văn rồi mới dịch, chứng tỏ ngài coi phép lạ này quan trọng. Hơn nữa, động từ “Hãy chỗi dậy” mà Marcô dùng cũng là động từ ngài sẽ dùng cho việc sống lại. Nghĩa là ngài hiểu phép lạ này là một phép lạ cứu sống.
– “Ngài dặn kỹ đừng nói cho ai biết”: để bảo vệ “bí mật Messia”
– “Rồi Ngài bảo cho em bé đó ăn”: Ðức Giêsu rất tế nhị, Ngài biết em bé đã nhịn ăn từ lâu khi hấp hối và trong thời gian còn chết.
@ cc 35-42: Ðức Giêsu coi phép lạ này rất quan trọng nên kêu gọi ông Giairô hãy có đức tin thật vững vàng, và dẫn theo 3 môn đệ thân tín vào chứng kiến. Ðối với Ðức Giêsu, chết chỉ là một giấc ngủ mà thôi.
1. Vẫn tin trong hoàn cảnh rất bi đát và khó khăn, đó mới là đức tin thật và đáng được thưởng.
2. Ðức Giêsu coi thường những dư luận không đúng đắn.
3. Ðối với Ðức Giêsu, chết chỉ là một giấc ngủ.
Ð cc 35-36
– “Ngay hôm đó”: cùng ngày với những dụ ngôn (4,1-34). Thánh Marcô xếp chuyện Ðức Giêsu làm cho sóng gió yên lặng vào cùng ngày Ngài dạy những dụ ngôn để cho Thấy Ðức Giêsu rất quyền năng, chẳng những trong lời giảng mà còn trong việc làm.
– “Ðức Giêsu liền bảo môn đệ: Ta hãy sang bờ hồ bên kia”: Việc này là do sáng kiến của Ðức Giêsu.
– “Khi chiều đã xuống”: sáng kiến dùng thuyền đi trên hồ khi chiều đã xuống thật táo bạo vì: a) Hồ này thường có bão, và nhiều nhất vào ban chiều; b) Người ta cũng tin rằng biển là sào huyệt của các thế lực gian tà, mà thế lực này thường hoành hành vào lúc chiều và đêm.
Như thế, chính Ðức Giêsu đã có sáng kiến làm một cuộc mạo hiểm, để có dịp cho các môn đệ thấy quyền năng của Ngài.
@ cc 35-36: Chính Ðức Giêsu đưa sáng kiến mạo hiểm chèo thuyền trên mặt hồ vào lúc ban chiều thường có bão, để các môn đệ có dịp thấy quyền năng của Ngài.
Ð cc 37-39
– Và đúng như Ðức Giêsu dự đoán, quả thực bão đã nổi lên, mà lại hung dữ hơn bình thường nữa, vì”Bão tố ầm ầm”, “sóng tạt cả vào khoang làm thuyền đầy nước” và các môn đệ (vốn là dân chài dù sao cũng nhiều lần gặp bão) lo sợ cuống cuồng.
– Ðang lúc đó thì Ðức Giêsu nằm ngủ. Không phải vì Ngài mệt mà ngủ quên cho bằng Ngài cố ý: chúng ta đã thấy việc này là do sáng kiến của Ngài; hơn nữa dù ngủ quên thì khi có bão và nước tràn vào truyền thì Ngài cũng phải tỉnh dậy mới phải.
– Việc các môn đệ dám đánh thức Thầy mình đang ngủ và lời họ nói với Ngài chứng tỏ họ rất sợ hãi.
– “Ðức Giêsu thức dậy, hăm đe gió”: Ðộng từ “hăm đe” cũng là động từ được dùng trong những tường thuật trừ tà. Ðức Giêsu không chỉ dẹp gió mà còn có ý dẹp tà thần.
– “Và truyền cho biển”: Truyền lệnh cho một thế lực thiên nhiên là quyền của một mình Thiên Chúa.
– “Im đi ngay, yên lặng”: ở 1,25 Ðức Giêsu cũng ra lệnh như thế cho tà thần.
Như thế, cách dùng chữ của Thánh Marcô trong những câu này cho thấy Ðức Giêsu không phải chỉ dẹp yên bão táp mà đang trừ tà thần.
@ cc 37-39: Trước một cơn bão mạnh khác thường, các môn đệ cuống cuồng sợ hãi, nhưng Ðức Giêsu cố tình nằm ngủ. Khi thức dậy Ngài đã biểu dương uy quyền chẳng những trên thiên nhiên mà còn trên quyền lực tà thần.
Ð cc 40-41
– “Các con chưa có lòng tin hay sao?”: Các môn đệ bị trách cũng đáng vì họ đã nhiều lần nhìn thấy quyền năng của Ðức Giêsu, từ việc trừ tà cho đến chữa bệnh cách bình thường, cách đặc biệt từ xa, thậm chí chỉ cần sờ vào gấu áo người cũng khỏi, và nhất là làm cho kẻ chết sống lại... thế mà khi gặp hoàn cảnh nguy hiểm xem như đức tin của họ đã tan biến hết.
– “Phần các ông, ai nấy kinh hoàng sợ hãi”: tâm trạng của con người khi đứng trước quyền phép Thiên Chúa.
@ cc 40-41: Các môn đệ đã bị Ðức Giêsu trách, vì họ đã chứng kiến bao phép lạ Ngài làm, thế mà trong cơn nguy hiểm đức tin của họ đã tan biến.
1. Nhiều khi chính Chúa đưa ta vào hoàn cảnh khó khăn để cho ta thấy được quyền năng của Ngài.
2. Ðức tin thật là đức tin vẫn vững chắc trong những lúc nguy hiểm.